Quảng cáo sai sự thật có phải là tội lừa dối khách hàng? Mức xử phạt mới nhất bao nhiêu?

1. Quảng cáo sai sự thật có phải là tội lừa dối khách hàng? Mức xử phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?

Theo Điều 197 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định cụ thể về chế tài đối với hành vi quảng cáo gian dối như sau:

  • Người nào quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
  • Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, nếu tổ chức, cá nhân đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quảng cáo không đúng sự thật theo quy định của Nghị định số 38/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo mà vẫn tiếp tục vi phạm thì có thể bị xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lưu ý: Ngoài chế tài về hình sự đối với quảng cáo không đúng sự thật thì hành vi quảng cáo không đúng sự thật còn bị xử phạt vi phạm hành chính như sau: Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 51, điểm b khoản 4 Điều 52, khoản 1 Điều 60, điểm c khoản 1 Điều 61 Nghị định 38/2021/NĐ-CP.

2. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tội lừa dối khách hàng mới nhất năm 2025 chuẩn quy định

Nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa hai khái niệm pháp lý quan trọng là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lừa dối khách hàng. Trên thực tế, dù đều liên quan đến hành vi gian dối để trục lợi, nhưng bản chất pháp lý, đối tượng tác động, mức độ nguy hiểm cho xã hội và chế tài xử lý theo Bộ luật Hình sự mới nhất năm 2025 lại hoàn toàn khác biệt. Sau đây là phân biệt hai tội danh này dựa trên một số tiêu chí như sau:

Tiêu chí

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Lừa dối khách hàng

Mô tả

Là tội mà người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

Là việc mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mà cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác trong việc mua bán để thu lợi bất chính.

Chủ thể

- Là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Khách thể

Là quyền sở hữu tài sản của con người và các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu của con người.

Là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự trong việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Mặt chủ quan

- Mục đích: là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản.

- Lỗi: tội phạm thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

- Động cơ, mục đích của người phạm tội này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, động cơ của người phạm tội lừa dối khách hàng bao giờ cũng vì động cơ tư lợi.

- Lỗi: tội phạm thực hiện với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp).

Mặt khách quan

Dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin tưởng vào sự gian dối mà trao tài sản cho người phạm tội.

Gian dối trong các lĩnh vực mua, bán bằng thủ đoạn cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo mặt hàng để lấy tiền của khách hàng.

Điều kiện truy cứu TNHS

Chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng mà gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

Không quy định định lượng giá trị tài sản chiếm đoạt được bằng thủ đoạn gian dối trong mua, bán.

Hình phạt cao nhất

Hình phạt cao nhất là tù chung thân

Hình phạt cao nhất là 7 năm tù

Căn cứ pháp lý

Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015

Điều 198 Bộ luật hình sự 2015

Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tội lừa dối khách hàng mới nhất năm 2025 chuẩn quy định

Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tội lừa dối khách hàng mới nhất chuẩn quy định

3. Các câu hỏi thường gặp

3.1. Thế nào là hành vi lừa dối khách hàng?

Hành vi lừa dối khách hàng là việc cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác trong hoạt động mua bán để thu lợi bất chính. Đây là hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh và có thể bị xử lý bằng chế tài hành chính hoặc hình sự, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm.

3.2. Khi nào thì hành vi lừa dối khách hàng bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Một người có thể bị xử lý hình sự nếu đã từng bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về hành vi này mà chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục vi phạm, hoặc nếu hành vi lừa dối giúp họ thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng trở lên. Trong trường hợp này, người vi phạm có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc chịu án tù đến 3 năm.

3.3. Hành vi nào có thể bị phạt tù đến 5 năm?

Người thực hiện hành vi lừa dối khách hàng có thể bị phạt tù từ 1 đến 5 năm nếu hành vi đó có tổ chức, mang tính chất chuyên nghiệp, sử dụng thủ đoạn xảo quyệt hoặc gây ra thiệt hại từ 50 triệu đồng trở lên. Đây là các tình tiết tăng nặng làm mức hình phạt cao hơn so với các trường hợp thông thường.

3.4. Nếu hành vi lừa dối chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị xử lý ra sao?

Trường hợp chưa đủ yếu tố để bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính. Mức phạt dao động từ 500.000 đồng đến 20 triệu đồng, tùy theo giá trị hàng hóa, dịch vụ bị gian lận. Mức phạt cao hơn sẽ áp dụng nếu giá trị giao dịch càng lớn.

3.5. Có hình thức xử phạt bổ sung hoặc biện pháp khắc phục nào không?

Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh hoặc bị đình chỉ hoạt động trong thời gian từ 1 đến 3 tháng nếu tái phạm. Đồng thời, họ còn có thể bị buộc nộp lại số tiền thu lợi bất hợp pháp hoặc thu hồi hàng hóa kém chất lượng đã cung cấp cho khách hàng.