Tìm kiếm
Chương 1 Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp: Quy định chung
| Số hiệu: | 43/2010/NĐ-CP | Loại văn bản: | Nghị định |
| Nơi ban hành: | Chính phủ | Người ký: | Nguyễn Tấn Dũng |
| Ngày ban hành: | 15/04/2010 | Ngày hiệu lực: | 01/06/2010 |
| Ngày công báo: | 28/04/2010 | Số công báo: | Từ số 193 đến số 194 |
| Lĩnh vực: | Doanh nghiệp | Tình trạng: |
Hết hiệu lực
01/11/2015 |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
Nghị định này quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh; quy định về cơ quan đăng ký kinh doanh và quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp.
Nghị định này áp dụng đối với các đối tượng sau:
1. Tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam;
2. Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình thực hiện đăng ký hộ kinh doanh theo quy định của Nghị định này;
3. Cơ quan đăng ký kinh doanh;
4. Cơ quan thuế;
5. Tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc đăng ký doanh nghiệp.
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Đăng ký doanh nghiệp quy định tại Nghị định này bao gồm nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.
2. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc bản điện tử mà cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế do doanh nghiệp đăng ký.
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế của doanh nghiệp.
3. Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia là hệ thống thông tin nghiệp vụ chuyên môn về đăng ký doanh nghiệp do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng và vận hành để gửi, nhận, lưu trữ, hiển thị hoặc thực hiện các xử lý khác đối với dữ liệu phục vụ công tác đăng ký doanh nghiệp. Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia bao gồm Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia và Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
4. Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia là trang thông tin điện tử để các tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng, truy cập thông tin về đăng ký doanh nghiệp và phục vụ cho công tác cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh.
5. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là tập hợp dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp có giá trị pháp lý là thông tin gốc về doanh nghiệp.
1. Người thành lập doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ, hợp pháp, trung thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.
2. Cơ quan đăng ký kinh doanh chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, không chịu trách nhiệm về những vi phạm pháp luật của doanh nghiệp xảy ra trước và sau đăng ký doanh nghiệp.
3. Cơ quan đăng ký kinh doanh không giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, cổ đông của công ty với nhau hoặc với tổ chức, cá nhân khác trong quá trình hoạt động.
4. Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế liên quan đến mã số doanh nghiệp được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
1. Thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ.
2. Người thành lập doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
3. Nghiêm cấm cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan khác gây phiền hà đối với tổ chức, cá nhân trong khi tiếp nhận hồ sơ và giải quyết việc đăng ký doanh nghiệp.
4. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp không được ban hành các quy định về đăng ký doanh nghiệp áp dụng riêng cho ngành hoặc địa phương mình.
5. Doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày doanh nghiệp quyết định thay đổi các nội dung này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
6. Doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp báo cáo tài chính cho cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
1. Nội dung của Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp bao gồm các nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế.
2. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp cho các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bao gồm những nội dung quy định tại Điều 25 Luật Doanh nghiệp và Điều 26 Luật Quản lý Thuế và được ghi trên cơ sở những thông tin trong Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp.
3. Mẫu Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp và mẫu Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành và được áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
4. Những doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế trước khi Nghị định này có hiệu lực không bắt buộc phải thực hiện thủ tục đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.
5. Trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu đổi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nhưng không thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế, doanh nghiệp nộp giấy đề nghị kèm theo bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bản chính Giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế tại cơ quan đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
1. Ngành, nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được ghi và mã hóa theo ngành cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, trừ những ngành, nghề cấm kinh doanh.
Nội dung cụ thể của các phân ngành trong ngành kinh tế cấp bốn được thực hiện theo Quy định về nội dung hệ thống ngành kinh tế Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành.
Việc mã hóa ngành, nghề đăng ký kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa trong công tác thống kê.
Căn cứ vào Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, người thành lập doanh nghiệp tự lựa chọn ngành, nghề kinh doanh và ghi mã ngành, nghề kinh doanh vào Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp. Cơ quan đăng ký kinh doanh đối chiếu và ghi ngành, nghề kinh doanh, mã số ngành, nghề kinh doanh vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
2. Đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì ngành, nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được ghi theo ngành, nghề quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đó.
3. Đối với những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam nhưng được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì ngành, nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được ghi theo ngành, nghề quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đó.
4. Đối với những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam và chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì cơ quan đăng ký kinh doanh thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) để xem xét bổ sung mã mới.
5. Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại các Luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định của Chính phủ. Nghiêm cấm việc ban hành và quy định không đúng thẩm quyền về các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Doanh nghiệp được quyền kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện kể từ khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Việc quản lý nhà nước đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và kiểm tra việc chấp hành điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên ngành theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
6. Ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề tương ứng và việc sử dụng chứng chỉ hành nghề trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
1. Mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp. Mã số này đồng thời là mã số đăng ký kinh doanh và mã số thuế của doanh nghiệp.
2. Mã số doanh nghiệp tồn tại trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp và không được cấp lại cho tổ chức, cá nhân khác. Khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động thì mã số doanh nghiệp chấm dứt hiệu lực và không được sử dụng lại.
Mã số doanh nghiệp tư nhân thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.
3. Mã số doanh nghiệp được lưu trên Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia và được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
4. Trong suốt quá trình hoạt động, kể từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động, mã số doanh nghiệp được dùng để kê khai nộp thuế cho tất cả các loại thuế phải nộp, kể cả trường hợp doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành, nghề khác nhau hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các địa bàn khác nhau.
5. Mã số đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp được cấp cho chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp.Bổ sung
Article 1. Scope of regulation
This Decree provides in detail dossiers, order and procedures for registration of enterprises and business households; and specifies business registration offices and agencies in charge of state management of enterprise registration.
Article 2. Subjects of application
This Decree applies to the following subjects:
1. Domestic organizations and individuals and foreign organizations and individuals that make enterprise registration under Vietnamese law:
2. Individuals, groups of individuals and households that make registration of business households under this Decree;
3. Business registration offices;
4. Tax offices;
5. Other organizations and individuals involved in enterprise registration.
Article 3. Interpretation of terms
In this Decree, the terms below are construed as follows:
1. Enterprise registration provided in this Decree covers business registration and tax registration for enterprises established under the Law on Enterprises. Enterprise registration includes registration of the establishment of a new enterprise and registration of changes in enterprise registration.
2. Enterprise registration certificate means a written or electronic document granted by a business registration office to an enterprise, indicating information on business registration and tax registration declared by the enterprise.
An enterprise registration certificate serves concurrently as the business registration certificate and the tax registration certificate of an enterprise.
3. National enterprise registration information system means a specialized enterprise registration information system built and operated by the Ministry of Planning and Investment in coordination with concerned agencies to transmit, receive, store, display or otherwise process data for enterprise registration. The national enterprise registration information system consists of the national enterprise registration portal and the national enterprise registration database.
4. National enterprise registration portal means a website for online enterprise registration or access to enterprise registration information by organizations and individuals and used for the grant of enterprise registration certificates by business registration offices.
5. National enterprise registration database means a set of data on enterprise registrations made nationwide. Information in enterprise registration dossiers stored in the national enterprise registration database is legally valid as original information on enterprises.
Article 4. Principles to be applied in carrying out enterprise registration procedures
1. Enterprise founders shall themselves make declarations in their enterprise registration dossiers and be held responsible before law for the completeness, lawfulness, truthfulness and accuracy of information declared in these dossiers.
2. Business registration offices are responsible for the validity of enterprise registration dossiers but not responsible for violations committed by enterprises before and after enterprise registration.
3. Business registration offices will not settle disputes among members and shareholders of companies or between them and other organizations and individuals in the course of operation.
4. Coercive measures to enforce tax administrative decisions related to enterprise identification numbers shall be taken under the Law on Tax Administration and guiding documents.
Article 5. The right of enterprise founders to establish enterprises and their obligation to make enterprise registration
1. To establish enterprises in accordance with law is the right of individuals and organizations, which is protected by the State.
2. Enterprise founders are obliged to make enterprise registration under this Decree and relevant legal documents.
3. Business registration offices and other agencies are prohibited from troubling to organizations and individuals when receiving dossiers and making enterprise registration.
4. Ministries, ministerial-level agencies. People's Councils and People's Committees at all levels may not promulgate regulations on enterprise registration to be exclusively applied to their own branches or localities.
5. Enterprises shall register changes in their enterprise registrations within 10 working days after they decide on these changes, unless otherwise provided for by law.
6. Enterprises shall submit their financial statements to business registration offices under law.
Article 6. Enterprise registration applications and certificates
1. An enterprise registration application includes contents on business registration and those on tax registration.
2. Enterprise registration certificates shall be issued to enterprises operating under the Law on Enterprises. Contents of an enterprise registration certificate include those specified in Article 25 of the Law on Enterprises and Article 26 of the Law on Tax Administration and are consistent with information indicated in the enterprise registration application.
3. Forms of enterprise registration application and enterprise registration certificate shall be set by the Ministry of Planning and Investment and applied uniformly nationwide.
4. Enterprises which have been issued business registration certificates or business and tax registration certificates before the effective date of this Decree are not required to convert these certificates into enterprise registration certificates. Enterprises shall be issued new enterprise registration certificates when they register changes in their registration contents.
5. In case enterprises wish to convert their business registration certificates or business and tax registration certificates into enterprise registration certificates without changing business and tax registration contents, they shall submit their applications enclosed with original business registration certificates and original tax registration certificates or original business and tax registration certificates to business registration offices for the grant of enterprise registration certificates.
1. Business lines shall be written in enterprise registration certificates under level-four codes in the Vietnamese system of economic sectors, except for banned business lines.
Specific contents of sub-sectors of level-four economic sectors must comply with regulations on contents of the Vietnamese system of economic sectors promulgated by the Ministry of Planning and Investment.
The coding of business lines registered in enterprise registration certificates is only for the statistical purpose.
Based on the Vietnamese system of economic sectors, enterprise founders may select business lines and write the codes of these business lines in their enterprise registration applications. Business registration offices shall check and indicate these business lines and codes in enterprise registration certificates.
2. Conditional business lines that are stipulated in other legal documents shall be written in enterprise registration certificates according to those legal documents.
3. Business lines that are not yet included in the Vietnamese system of economic sectors but are stipulated in other legal documents shall be written in enterprise registration certificates according to those legal documents.
4. Business lines that are neither included in the Vietnamese system of economic sectors nor stipulated in other legal documents, business registration offices shall notify them to the Ministry of Planning and Investment (the Genera! Statistics Office) for consideration and addition of new codes.
5. Conditional business lines are stipulated in laws of the National Assembly, ordinances of the National Assembly Standing Committee and decrees of the Government. It is prohibited to stipulate conditional business lines or issue legal documents thereon ultra vires. Enterprises may conduct these business lines as soon as they fully satisfy the conditions prescribed by law. The state management of conditional business lines and inspection of satisfaction of business conditions by enterprises shall be performed by specialized agencies defined by specialized laws.
6. For business lines that require practicing certificates, conditions on the grant of relevant practicing certificates and use of these certificates in production and business operations of enterprises comply with specialized laws.
Article 8. Enterprise identification numbers
1. Every enterprise shall be granted a sole identification number which is called enterprise identification number. Such an identification number serves concurrently as the business registration number and tax identification number of an enterprise.
2. An enterprise identification number will exist throughout the course of operation of the enterprise and must not be re-granted to another organization or individual. When the enterprise terminates its operation, its enterprise identification number will no longer be valid and must not be reused.
Private enterprise identification numbers comply with the tax law.
3. Enterprise identification numbers shall be stored in the national enterprise registration information system and written in enterprise registration certificates.
4. Throughout the course of operation, from the establishment to operation termination of an enterprise, an enterprise identification number shall be used for the declaration and payment of all payable taxes, even in case the enterprise conducts different business lines or production and business operations in different localities.
5. Identification numbers of affiliated units of an enterprise shall be granted to its branches, representative offices and business places.
