TOP 15 mẫu Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (2026) SIÊU HAY

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 lớp 5 gồm 15 bài văn mẫu hay nhất, chọn lọc giúp học sinh viết bài tập làm văn lớp 5 hay hơn.

1 4,507 16/01/2026


Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5

Đề bài: Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 1)

TOP 10 mẫu Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (2024) SIÊU HAY (ảnh 1)

Quay về với thiên nhiên, hít thở không khí trong lành và tận hưởng sự yên bình là điều mà ai cũng khát khao khi rời xa phố thị ồn ào. Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm như một thiên đường đặc biệt, mang trong mình nét đẹp rừng mưa nhiệt đới độc đáo.

Theo các cuộc khảo sát, Vườn Quốc gia Cúc Phương được coi là một trong những danh lam thắng cảnh tuyệt vời của Việt Nam, với hơn 2000 loài thực vật cao cấp. Nhiều loài trong số đó đã được ghi vào sách đỏ của Việt Nam.

Trên những con đường rải rác, bạn sẽ cảm nhận được sự mạnh mẽ và vẻ đẹp lộng lẫy của cây cối, cùng với sự phong phú của màu sắc từ những bông hoa rực rỡ.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 2)

Hang Sơn Đoòng đứng đầu danh sách các hang động tự nhiên toàn cầu với quy mô vô cùng ấn tượng. Khám phá của nó vào năm 2009 đã mở ra cánh cửa cho du lịch từ năm 2013. Trong tập danh lam thắng cảnh Việt Nam, Hang Sơn Đoòng không thể thiếu và nên nhớ đến với tên gọi "Vẻ Đẹp Hùng Vĩ của Hang Động Sơn Đoòng".

Hang Sơn Đoòng không chỉ gây ấn tượng bởi sự to lớn, mà còn vì mình mang trong mình một hệ sinh thái thực vật tươi đẹp, một tác phẩm nghệ thuật của tự nhiên.

Điều độc đáo đặc biệt tại Hang Sơn Đoòng là sự kết hợp tuyệt vời giữa rừng nhiệt đới xanh um, những tường đá vôi cao chót vót, sông ngầm êm dịu và môi trường khí hậu, thời tiết độc đáo riêng.

Tạo nên một tuyệt phẩm tương thích giữa yếu tố thiên nhiên và văn hóa, Hang Sơn Đoòng hòa quyện vẻ đẹp và hài hòa, mê hoặc và kích thích mọi cảm xúc của những du khách may mắn được trải nghiệm nơi này.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 3)

Một trong những di tích lịch sử và văn hóa nổi tiếng của Việt Nam mà em biết là Chùa Hương, còn được gọi là Thiên Trù, nằm ở thị trấn Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc tỉnh Hà Nội).

Tên đầy đủ của chùa là Chùa Trong Thiên, nhưng được gọi phổ biến là Chùa Hương vì nằm trong khu vực dãy núi Hương Tích. Chùa Hương nằm ở đỉnh núi Thiên Trù, thuộc dãy núi Non Nước, nơi có những cảnh đẹp hùng vĩ với nhiều ngọn núi, hồ nước và thác nước.

Chùa Hương không chỉ là một di tích lịch sử và văn hóa mà còn là một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam. Nơi đây không chỉ thu hút du khách bởi cảnh đẹp thiên nhiên mà còn bởi không khí tĩnh lặng, thanh bình, và tâm linh.

Con người tại Chùa Hương cũng là điểm nhấn của địa điểm này. Các nhà tu hành, những người đến thăm chùa, và những người làm công tác tôn giáo tại đây tạo nên một không gian linh thiêng và yên bình.

Chùa Hương không chỉ là một địa điểm du lịch mà còn là một trung tâm tâm linh quan trọng của Việt Nam, nơi mà người dân và du khách đến để tìm kiếm sự an bình và tinh thần yên lành.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 4)

Vịnh Hạ Long - một phần của danh sách danh lam thắng cảnh Việt Nam được UNESCO thừa nhận. Vịnh Hạ Long quyến rũ bởi sự toàn diện từ 2000 hòn đảo khác nhau, mỗi hòn như một tổng thể đồng nhất. Kết quả là bức họa "con người" có tên Vịnh Hạ Long, một vẻ đẹp rộng lớn, hùng vĩ và đặc biệt đầy "tuyệt vời".

Bức tranh thiên nhiên của Vịnh Hạ Long là sự hài hòa của ba yếu tố chính. Sự mênh mông và mở rộ của bầu trời xanh, sự yên bình và trong lành của dòng nước, cùng với sự cứng cáp và uy nghiêm của những hòn đảo đá, tạo nên một khung cảnh tuyệt vời nhưng cũng rất hài hòa.

danh lam thắng cảnh việt nam

Không chỉ trong nước mà cả du khách quốc tế đều háo hức trải nghiệm Vịnh Hạ Long - một thiên đàng tuyệt đẹp, để thưởng ngoạn và cảm nhận sự động viên mạnh mẽ nhưng tinh tế ẩn chứa ở đây.

Vào điều đặc biệt, tất cả vẻ đẹp của Vịnh Hạ Long tồn tại tự nhiên, không chịu sự can thiệp của con người. Điều này đã giúp cho Vịnh Hạ Long duy trì vẻ đẹp của mình qua nhiều thăng trầm của lịch sử. Nó tiếp tục là một điểm đến lý tưởng cho những chuyến du lịch, giữ nguyên sự hiếm có và độc đáo.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 5)

Huế nằm trong danh sách các vùng đất quý giá, được xem là trái tim văn hóa của dân tộc. Từng dòng thiên nhiên đã ban tặng cho Huế nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp, nâng cao vẻ đẹp của Việt Nam. Thời gian dừng lại khi bước chân vào thành phố Huế, nơi mang trong mình sự huyền bí, cổ kính và tối thượng của cố đô hàng trăm năm.

Trước kia, Cố đô Huế tỏa sáng với những cung điện vàng son của triều đại Nhà Nguyễn, những di sản của một thời kỳ cuối cùng của triều đại Việt Nam. Vẻ đẹp trang trọng và tôn nghiêm kết hợp với văn hóa lịch sử bền vững là niềm tự hào của toàn dân.

Người ta thường miêu tả Huế là một giấc mơ, một bức tranh trữ tình... và điều đó không hoàn toàn sai. Dọc theo dòng sông Hương uốn lượn, Cố đô Huế thể hiện sự đẹp đẽ đằng sau lớp vẻ đẹp cổ kính. Dòng sông Hương mênh mông với nước xanh biếc, mang tới một cảm giác thơ mộng, làm tôn lên vẻ đẹp của Cố đô Huế.

Đây chính là nơi lý tưởng để tổ chức cuộc hành trình du lịch, nơi bạn có thể thể hiện sự bình yên. Cố đô Huế không phải là một nơi tấp nập, ồn ào, mà là nơi mà cuộc sống diễn ra chậm rãi hơn, êm đềm hơn, giúp bạn thực sự trải nghiệm và đắm chìm trong sự tĩnh lặng và yên bình.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 6)

Xã hội ngày càng phát triển thì nhịp sống ở nơi thành thị ngày càng xô bồ nhộn nhịp. Được trở về thiên nhiên, trở về với những cánh rừng nguyên sinh khiến tâm hồn mỗi người trẻ lại, được thanh lọc trong sạch hơn. Việt Nam ta là vùng đất của: "Rừng vàng biển bạc". Mà một trong số đó phải kể đến khu bảo tồn thiên nhiên: Vườn Quốc gia Cúc Phương.

Vườn Quốc gia Cúc Phương là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên lớn ở Việt Nam. Với diện tích rộng lớn khoảng hơn 20.000 ha, rừng Cúc Phương trở thành biên giới đặc biệt giữa 3 tỉnh Bắc Trung Bộ, Tây Bắc và Châu thổ Sông Hồng thuộc 3 tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa. Cúc Phương còn nổi tiếng là một địa hình có đóng góp lớn cho công cuộc khảo cổ học. Chính tại nơi đây người ta tìm thấy dấu tích của người tiền sử có niên đại 12.000 năm qua những dụng cụ lao động thô sơ như rìu đá, mũi tên đá, dao bằng vỏ sò, dụng cụ xay nghiền..., qua mồ mả, hay những hang động mà họ từng sinh sống. Chính những dấu tích ấy khai sinh cho quần thể bảo tồn thiên nhiên Cúc Phương năm 1960. Về địa hình, rừng Cúc Phương án ngữ ở phía Đông Nam của dãy núi Tam Điệp, ở phía tây vườn có sông Bưởi, một nhánh của sông Mã chảy qua. Bởi vậy, không chỉ bảo vệ sự sống còn của những sinh vật trong hệ sinh thái, rừng Cúc Phương còn bảo vệ cho sự sống của con người những vùng lân cận khi tham gia trực tiếp vào vai trò bảo vệ hồ chứa nước Yên Quang.

Là một khu bảo tồn sinh học nên vào thăm rừng Cúc Phương, người ta có thể thấy sự đa dạng phong phú của các loài từ động vật đến thực vật, có cả những sinh vật quý hiếm. Rừng Cúc Phương như người mẹ thiên nhiên bảo vệ được đến 76% số họ, 48,6% số chi và 30% số loài của miền Bắc và chiếm 68,9% số họ, 43,6% số chi và 24,6% số loài hiện có ở Việt Nam. Đặc biệt khi đến đây, ai cũng tò mò muốn được xem cây chò chỉ nghìn năm hơn 1000 năm tuổi, với chiều cao 50 - 60m, cây đăng, cây sấu cổ thụ cao 45m. Chúng thường là một trong những đích đến khi khám phá khu rừng đầy bí ẩn này. Cúc Phương cũng là ngôi nhà của nhiều loại động vật quý hiếm như: gấu, ngựa, lợn lòi, hổ, báo, chồn, sóc, hươu sao, nai, khỉ vàng, voọc quần đùi,... nhiều loại đã được đưa vào Sách đỏ. Ngoài ra đến Cúc Phương, người ta còn khám phá những hang động như những chứng tích văn hóa lịch sử lâu đời như : Trăng Khuyết, động Chúa, động Thuỷ Tiên, động Người Xưa, hang Con Moong, động San Hô... Cúc Phương còn hùng vĩ hơn cả với đỉnh Mây Bạc cao 648m, thơ mộng hơn cả với hồ Yên Quang trầm mặc và cổ kính với một hòn đảo nhỏ và ngôi đền cổ. Đây quả là một nơi mang cảnh đẹp sơn thủy hữu tình, thu hút ấn tượng của nhiều người khi đặt chân đến đây.

Rừng Cúc Phương của Việt Nam đóng vai trò là một trong những khu bảo tồn lớn nhất, là nơi bảo vệ được những loài có giá trị. Rừng đã được nhận nhiều dự án của nước ngoài để hợp tác bảo tồn và phát triển thảm thực vật và nguồn động vật quý hiếm ở nơi đây. Bên cạnh đó, nó còn có giá trị du lịch. Hàng năm có biết bao lượt khách lui tới tham quan rừng, là một nơi thuận lợi để phục vụ tìm hiểu, nghiên cứu sinh học.

Rừng Cúc Phương là một trong những niềm tự hào của đất nước ta khi đã bảo vệ được những giống loài quý hiếm, tiêu biểu cho cảnh quan Việt Nam. Nhưng đồng thời, nó cũng nhắc nhở mỗi chúng ta về ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng, để đất nước ta mãi là đất nước của "rừng vàng biển bạc".

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 7)

Hằng năm, cứ đến mùa thi, nhiều sĩ tử miền Bắc luôn hướng về Văn miếu Quốc Tử Giám để cầu mong may mắn, rồi cũng có rất nhiều những cử nhân lựa chọn địa điểm này để lưu lại những bức ảnh kỉ yếu của một thời sinh viên đẹp đẽ. Tại sao nơi này lại thường gắn với những hoạt động học tập như thế? Đó là bởi vì đây là một nơi giàu truyền thống văn hóa, khoa cử.

Văn miếu Quốc Tử Giám được biết đến là một địa danh tọa lạc tại thủ đô Hà Nội, được coi như biểu tượng của sự trường tồn tinh hoa văn hóa, giáo dục dân tộc, của truyền thống tôn sư trọng đạo.

Văn Miếu, theo Đại Việt sử kí toàn thư, được xây dựng năm 1070, đời vua Lí Thánh Tông, thờ các bậc tiên thánh, tiên sư cuả đạo Nho. Đồng thời, đây cũng là một trường học hoàng gia. Năm 1253, Trần Thái Tông mở rộng Quốc Tử Giám, thu nhận cả những học sinh là con nhà thường dân có học lực xuất sắc.

Khu Văn miếu tọa trên khu đất hình chữ nhật với tổng diện tích là 54000 m2, bao quanh bởi khu tường gạch vồ cỡ lớn tạo không gian cổ kính trang nghiêm. Bước vào bên trong, những mái kiến trúc cổ ẩn hiện trong cành lá sum suê tạo sự thu hút đặc biệt với du khách. Trong Văn Miếu có một hồ Văn, đây là nơi diễn ra các cuộc bình thơ. Khu nội tự được chia thành 5 khu vực. Khu vực một từ Văn miếu môn đến Đại trung môn. Để vào Văn miếu môn phải đi qua bốn thần trụ, bước qua ba cửa cuốn vòng là vào Văn miếu môn. Theo con đường thẳng tắp từ Văn miếu môn đi vào chính là Đại trung môn gồm ba gian dựng bằng gạch. Con đường lát gạch sẽ tiếp tục đưa du khách đến Khuê Văn Các, là lầu vuông gồm hai tầng tám mái. Đây là biểu tượng của văn hóa văn học Việt Nam. Qua Khuê Văn Các đến giếng Thiên Quang, hình vuông, quanh năm mặt nước bằng phẳng, con đường lát gạch quanh giếng Thiên Quang dẫn du khách đến nhà bia tiến sĩ, gồm 82 tấm bia đá khắc các bài thi văn, bia đặt trên lưng rùa biểu hiện tinh hoa dân tộc. Qua nhà bia Tiến sĩ sẽ đến khoảng sân rộng được lát gạch Bát Tràng. Khu vực cuối cùng là nhà Thái học, xưa là nơi đào tạo nhân tài. Văn miếu là nơi tôn vinh nhà giáo lỗi lạc Chu Văn An và các vị vua có công dây dựng.

Với giá trị lịch sử, văn hóa to lớn, Văn Miếu Quốc Tử giám còn là nơi được lựa chọn để tổ chức các buổi hội thảo, chuyên đề, là nơi vinh danh các thủ khoa xuất sắc. Tháng 5 – 2012, Văn Miếu được công nhận là di tích đặc biệt cấp quốc gia. Đây cũng là địa điểm du lịch nổi tiếng thu hút khách du lịch muốn tìm hiểu văn hóa lịch sử Việt Nam, là nơi các sĩ tử đến xin chữ cầu may mắn, là nơi được chọn để chụp các bức ảnh kỉ yếu của học sinh, sinh viên,…

Bởi đây là di tích đặc biệt cấp quốc gia nên cần lưu ý một số điều cơ bản: Không xả rác bừa bãi, không giẫm chân lên thảm đỏ và không xoa đầu các cụ rùa, ăn mặc trang nghiêm, thái độ thành tâm, thánh kính,..

Dù bước thăng trầm của thời gian có thế nào đi nữa, Văn miếu – Quốc Tử Giám vẫn sẽ là một di tích mang dấu ấn của một quốc gia giàu truyền thống khoa cử và trở thành biểu tượng đẹp của thủ đô Hà Nội.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 8)

Chùa Một Cột, một phần của khu di tích chùa Diên Hựu từ thời lý, ngày nay tọa lạc tại Ba Đình gần Lăng Bác, Hà Nội, vẫn giữ nguyên vẻ đẹp và tinh tế qua thời gian.

Khởi công và xây dựng từ tháng 10 năm 1049 âm lịch, Chùa Một Cột là biểu tượng văn hiến của Việt Nam. Vua Lý Thái Tông xây dựng nó dựa trên một giấc mơ về phật quan âm dẫn mình lên đài sen. Thiền sư Tuệ hướng dẫn ý tưởng xây dựng ngôi chùa.

Ngôi chùa, thiết kế với phần dưới bằng gỗ và cột đá tượng trưng cho thân sen, phần trên là đài sen. Đài Liên Hoa hình vuông, mái cong cong, nằm bên trên cột đá cao 4m. Chùa nổi lên khỏi hồ Linh Chiểu, tạo nên kiến trúc độc đáo với hồ màu xanh bao quanh.

Trùng tu và tôn tạo nhiều lần từ 1840 đến 1997, Chùa Một Cột đánh dấu vị thế lịch sử và văn hóa, là một trong những di tích được xếp hạng cao của Việt Nam. Nó còn trở thành biểu tượng trên đồng tiền xu 5000 đồng của đất nước.

Chùa Một Cột, biểu tượng văn hiến và lịch sử, là một trong những địa điểm được văn hóa Việt Nam vinh danh. Ngày nay, nó không chỉ là di tích kiến trúc, mà còn là biểu tượng tinh thần và niềm tự hào của người Hà Nội.

Nếu bạn có cơ hội du lịch 1 ngày ở Hà Nội, đừng bỏ qua Chùa Một Cột - biểu tượng văn hiến của Việt Nam với kiến trúc độc đáo. Ngôi chùa nhỏ bé này thu hút đông đảo khách du lịch bởi sự độc đáo và nét văn hóa tuyệt vời.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 9)

Nam Định không chỉ nổi tiếng với ngành dệt may mà còn là đất đai của những con người tài năng, được biết đến như Đất học Thành Nam. Vùng đất này còn có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh lâu dài, trong đó Cột Cờ Nam Định là một điểm đặc biệt.

Cột Cờ Nam Định, hay còn gọi là Kỳ Đài, tọa lạc trên đường Tô Hiệu, phường Ngô Quyền, phía Nam thành phố Nam Định. Xây dựng từ thời Gia Long thứ 11 (năm 1812) và hoàn thành vào thời Thiệu Trị thứ 3 (năm 1843), công trình này không chỉ là biểu tượng của chủ quyền quốc gia mà còn là một tác phẩm liên quan chặt chẽ đến thành cổ Nam Định.

Cột cờ Thanh Nam là một biểu tượng lịch sử quan trọng, chứng kiến nhiều sự kiện đặc biệt trong kháng chiến chống Pháp và những biến cố lịch sử khác. Từng bị tàu Pháp ném bom và máy bay Mỹ tấn công, nhưng cột cờ vẫn đứng vững nhờ sự phục hồi của nhân dân và chính quyền địa phương.

Cột cờ Thành Nam Định, cao 23,84m, là công trình kiến trúc cao nhất trong Thành Nam. Xây dựng từ năm Gia Long thứ 11 (1812), cột cờ thể hiện vẻ đẹp và tinh thần kiên cường của người dân Nam Định qua những thời kỳ khó khăn. Từ đỉnh cột, có thể ngắm nhìn toàn cảnh tỉnh Nam Định và ba tỉnh lân cận.

Cột cờ Nam Định không chỉ là một biểu tượng lịch sử, mà còn là điểm đến hấp dẫn cho du khách muốn khám phá về lịch sử và văn hóa đặc sắc của thành phố. Mỗi năm, cột cờ đón tiếp nhiều du khách, đặc biệt là vào những dịp quan trọng như ngày lễ quốc gia.

Qua hơn hai thế kỷ tồn tại, cột cờ Nam Định vẫn là nguồn cảm hứng cho người dân Thành Nam, ghi lại những ký ức quan trọng của lịch sử quốc gia. Đây không chỉ là một công trình kiến trúc, mà còn là biểu tượng sống của lòng dũng cảm và sự hy sinh cho tổ quốc.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 10)

Khi nhắc đến du lịch Hà Nội, du khách sẽ dễ dàng liên tưởng đến những nét cổ xưa, những truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời của mảnh đất ngàn năm văn hiến này. Đền Ngọc Sơn như một biểu tượng minh chứng lịch sử gắn liền với bao thăng trầm của thủ đô Hà Nội. Cho đến ngày nay, di tích Đền Ngọc Sơn trở thành địa điểm du lịch không thể bỏ qua khi ghé thăm Hà Nội.

Đền Ngọc Sơn nằm ngay trung tâm Hà Nội, không chỉ là một địa điểm quen thuộc của người dân nơi đây mà còn là một trong những địa điểm du lịch tâm linh thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Ngọc Sơn là một ngôi đền nổi tiếng nằm trên đảo Ngọc của Hồ Hoàn Kiếm – Hà Nội. Di tích Đền Ngọc Sơn được xây dựng trên một gò đất cao phía Đông Bắc của hồ và có từ thời nhà Lý. Ngay cổng Đền Ngọc Sơn là ngọn Tháp Bút khắc ba chứ “Tả Thanh Thiên” nghĩa là “viết lên trời xanh”. Lối dẫn du khách qua đảo Ngọc thăm Đền Ngọc Sơn là cây Cầu Thê Húc cũng là điểm nhấn thu hút du khách mỗi khi đến với địa điểm này.

Đền Ngọc Sơn được xây dựng từ thế kỉ 19, ban đầu được gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi thành Đền Ngọc Sơn vì trong đền chỉ thờ thần Văn Xương Đế Quân là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ vua Trần Hưng Đạo.

Trải qua rất nhiều lần bị phá bỏ và qua rất nhiều người thì đến cuối cùng vào năm 1865 nhà nho Nguyễn Văn Siêu đã đứng ra tu sửa lại ngôi đền, ông còn cho xây them đình Trấn Ba, bắc một câu cầu từ bờ đông đi ra đảo Ngọc gọi là Cầu Thê Húc, bên trái ông cho xây dựng Đài Nghiêng, và phía đông ông xây Tháp Bút, tượng trưng cho nền văn vật. Cho đến nay, trải qua bao nhiều thăng trầm và biến cố lịch sử, Đền Ngọc Sơn vẫn uy nghi và là điểm thu hút khách du lịch giữa lòng thủ đô.

Đền Ngọc Sơn được xây dựng theo kiến trúc hình chữ Tam. Trong đền có nhiều câu đối, hoành phi và vật bài trí linh thiêng. Mái đình của đền có hình vuông, có tam mái, mái hai tầng có tám cột chống đỡ. Sự kết hợp giữa bốn cột trong bằng gỗ và bốn cột ngoài bằng đá tạo nên sự tôn nghiêm và nét riêng cho Đền Ngọc Sơn. Người dân thủ đô thường xuyên đến đây dâng hương cầu nguyện và những du khách khi có dịp ghé đến đều vào thắp hương tưởng nhớ các thánh nhân và cầu an.

Trước khi vào tham quan Đền Ngọc Sơn du khách sẽ được chiêm ngưỡng Đài Nghiêng và Tháp Bút bên bờ đông. Tháp Bút được dựng trên núi Ngọc Bội, đỉnh tháp có hình bút lông dựng ngược. Trên Đài Nghiêng có một cái nghiêng mực hình nửa quả đào bằng đá được đội trên mình ba con ếch, trên đài có khắc một bài thuyết minh nói về công dụng của nghiêng mực.

Để qua đảo Ngọc bạn phải đi qua cây Cầu Thê Húc, cây cầu gắn liền với di tích Đền Ngọc Sơn đã đi vào những áng thơ ca Việt Nam rất nhiều vì hình ảnh vô cùng nên thơ. Cây cầu nổi bật với màu son đỏ, nhìn từ xa như một dải lụa đào vắt ngang qua mặt Hồ Gươm xanh biếc như ngọc. Tên của cầu có nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời. Đứng trên cầu nhìn cảnh vật vô cùng hữu tình xung quanh bạn sẽ chìm đắm trong không gian yên bình nhẹ nhàng của Hà Nội và đừng mãi ngắm cảnh mà quên chụp những bức hình thật đẹp nhé.

Ghé thăm Đền Ngọc Sơn, du khách sẽ cảm nhận được một không gian yên bình, tĩnh lặng giữa lòng thủ đô đông đúc, tấp nập. Không chỉ là địa điểm tâm linh của người dân và khách du lịch đến dâng hương cầu an mà nơi đây còn trở thành biểu tượng và là nơi để thư giãn, cảm nhận cuộc sống tại Hà Nội.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 11)

Từ trước đến nay, em vẫn thường cho rằng các khu rừng ngập mặn chỉ có ở các tỉnh miền Nam của nước ta - một nơi cách rất xa nơi em sống. Nhưng rồi trong một lần tình cờ, em được biết rằng ở miền Bắc nước ta cũng có rừng ngập mặn. Nổi bật trong số đó là rừng ngập mặn Phú Long ở Cát Bà. Sau nhiều lần mong chờ, cuối tuần vừa rồi, em đã được đặt chân đến vùng đất kì diệu ấy.

Trên những bức ảnh, em đã mường tượng được về sự đồ sộ, vĩ đại của Phú Long, nhưng khi được tận mắt chứng kiến cảnh đẹp nơi đây, em vẫn sững sờ, ngơ ngác. Bởi khu rừng ngập mặn này thực sự vô cùng lớn. Ngồi trên thuyền, xuôi theo dòng nước, nhìn bốn phía chỉ thấy mênh mông cây và nước. Trên cao, bầu trời mùa thu cao vời vợi, trong veo, lửng lơ bóng mờ của những đám mây xa xôi. Nắng cũng nhẹ và dịu dàng, sưởi ấm cho cỏ cây, hoa lá. Không gian rộng lớn, thoáng đãng tạo cơ hội cho những ngọn gió náo nức thỏa thích nô đùa. Ở rừng ngập mặn, gió thổi lồng lộng, mang theo mùi lá cây rừng và một mùi rất đặc trưng ở những vùng nước ngập. Những cây đước, cây mắm, cây bần... vốn khác họ nhưng xem nhau như anh em. Chúng mọc san sát, bám vào nhau, kề vai bá cổ vui thích lắm. Cây nào cũng mọc lên cao lớn, tán lá xanh rì. Điều đặc biệt nhất có lẽ là bộ rễ của chúng. Khác với cây bàng, cây phượng trên sân trường giấu hết rễ vào lòng đất, rễ của cây tại rừng ngập mặn chồm lên trên mặt đước, như một chùm, một bó những sợi rễ to như ngón chân cái. Rễ cây này mọc xen vào cây kia, đan với nhau tạo thành cả một hàng rào vững chãi. Những cụm cây ấy mọc thành các nhóm lớn, nhưng không hoàn toàn liền mạch. Giữa các cụm ấy là những kênh, rạch, những hồ nước khổng lồ. Tất cả phối hợp với nhau để tạo nên một cảnh quan tuyệt đẹp, nức lòng người du khách.

Nước ở đây có những chỗ chẳng quá sâu, có thể chống cả gậy chèo xuống chạm đáy. Dưới đáy toàn là bùn, cả một lớp bùn dày. Mỗi lần rút gậy lên, bùn lại theo đó tỏa lan ra. Nước ở đây không trong vắt mà đùng đục. Có chỗ nâu đỏ, có chỗ xanh nâu. Đó là vì dòng nước trĩu nặng phù sa, lại là nhà của cả một hệ thống các loài rong rêu, động vật vô cùng phong phú. Không chỉ vậy, mà trên những tán cây xanh rù rì kia còn có cả những gia đình chim, cò đa dạng không kém. Nhờ sự hiện diện của các loài vật đó, mà khu rừng ngập mặn trở nên sinh động, rộn ràng hơn. Một điều thú vị mà em nhận ra khi được đến đây tham quan, là mặt nước ở đây trống trải, không có bèo hay lục bình trôi như các khu rừng ngập mặn ở phía Nam. Có lẽ đây là điểm nhấn giúp tạo nên sự khác biệt với những khu rừng khác chăng?

Suốt gần hai tiếng lênh đênh trên mặt nước trong rừng ngập mặn Phú Long, em chẳng hề thấy mệt hay chán, vì đã được thiên nhiên chiêu đãi một cách thịnh soạn và hồ hởi bằng nắng, gió và cảnh đẹp tuyệt vời. Em mong rằng, khu rừng ngập mặn này sẽ giữ mãi được vẻ đẹp nguyên sơ của mình như hiện tại.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 12)

Em sinh ra và lớn lên ở Đà Nẵng, cách miền Bắc khá xa, nên được đến tham quan hồ Gươm ở thủ đô Hà Nội luôn là mơ ước của em từ khi còn rất nhỏ. Mãi đến năm nay, vào kì nghỉ lễ mùng 2 tháng 9, em mới được bố mẹ thỏa mãn mong ước đó. Tuy chuyến tham quan, ngắm cảnh hồ Gươm chỉ diễn ra trong một buổi chiều, nhưng cũng đủ để khiến em cảm thấy hạnh phúc, vui sướng vô cùng.

Khi em đặt chân đến hồ Gươm, trong phút chốc, một cảm giác kì lạ len lỏi vào lồng ngực em. Đó là bởi ước mong lâu ngày cuối cùng cũng thành hiện lực, và cũng bởi khung cảnh ở đây thật đẹp quá. Cảnh đẹp ở hồ Gươm là sự dung hòa giữa thiên nhiên và kiến trúc do con người tạo ra. Hai yếu tố đó dung hòa một cách thuần túy và tự nhiên đến mức như vốn phải như thế. Hồ Gươm nổi tiếng với mặt hồ rộng và bằng phẳng như mặt gương khổng lồ. Nước hồ có màu xanh lơ, rất sâu, ẩn chứa cả một thế giới ở dưới đó. Khi đứng gần, em quan sát được những đợt sóng gợn lăn tăn trên mặt hồ, dập dềnh đều đặn như tấm lụa xanh đang trôi dạt vào bờ, chứ không đứng im lìm như trong sách kể. Giữa lòng hồ, có một ngôi tháp bốn tầng với nhiều ô cửa sổ trông rất xưa cũ đứng trầm tư. Đó chính là Tháp Rùa mà người ta vẫn thường nhắc đến trong các bài thơ về hồ Gươm. Ngọn tháp có nhiều rêu xanh bám vào, những mảng sơn cũng tróc ra, trông xám xịt, thấm đẫm vẻ trầm tư của thời gian. Nó chính là minh chứng lớn nhất cho những gì mà hồ Gươm đã trải qua. Xung quanh tháp chỉ là mặt nước mênh mông, ngăn cách nó với thành phố ồn ào và náo nhiệt. Nhìn tháp, em cảm giác nó mang một nỗi trầm buồn khó tả.

Men vào gần bờ hồ hơn là đền Ngọc Sơn lấp ló trong những tán lá xanh mượt, cao lớn. Khác với Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn trông mới và uy nghiêm hơn hẳn. Có lẽ bởi nơi đây được trùng tu, chăm sóc cẩn thận và thường xuyên có người đến dâng hương, cúng bái. Không gian trong đền tĩnh lặng, nghiêm trang, chỉ nghe tiếng lá cây bên ngoài xào xạc và tiếng bước chân người ghé qua. Tuy được trùng tu nhiều lần, nhưng đền Ngọc Sơn vẫn giữ nguyên lối kiến trúc và trang trí thuở ban đầu, trọn vẹn nét xưa cũ và cổ kính. Lối dẫn vào đền là cây cầu Thê Húc có nước sơn đỏ tươi, cong cong như con tôm. Hình ảnh so sánh đó em đã đọc nhiều trong sách vở, nhưng đến nay, phải khi nhìn ngắm trực tiếp thì em mới cảm nhận được sự tinh tế và ngộ nghĩnh của các so sánh đó.

Toàn bộ xung quanh hồ Gươm, đều đã được xây bờ kè. Ven bờ hồ cũng được lát đá bằng phẳng, thuận tiện cho di chuyển. Rất nhiều cây xanh cao lớn vốn mọc quanh bờ hồ cũng được chăm sóc và bảo vệ chu đáo. Cây nào cũng to lớn, tán lá xanh um, vươn mình soi bóng dưới mặt hồ. Cùng với đó, còn có rất nhiều những luống hoa tươi xinh được trồng xen kẽ giữa các gốc cây, tạo nên vẻ đẹp tươi mát, tăng thêm màu sắc cho cảnh quan ven hồ. Dường như người trồng cây cũng cố tình tạo nên một hàng rào tự nhiên từ cây cỏ, hoa lá, để bảo vệ không gian bên trong hồ. Để hồ Gươm tuy nằm giữa lòng Hà Nội xô bồ, nhộn nhịp, vẫn giữ vẹn nguyên nét cổ kính, xưa cũ và trầm mặc của mình. Dạo bước quanh hồ, em cảm thấy thời gian ở đây như chậm hơn phía ngoài kia. Không gian ở đây mang một màu sắc rất riêng, khiến người ta không tự chủ mà sống chậm lại, tận hưởng từng thời khắc ở nơi này.

Rời khỏi hồ Gươm, hòa vào dòng người rộn ràng của thủ đô, em lại càng nuối tiếc thời gian tham quan hồ. Giá như em được ở lại nơi đó lâu thêm chút nữa, được chiêm ngưỡng khoảnh khắc hoàng hôn và giao mùa ở đó thì tuyệt vời biết nhường nào. Suy nghĩ ấy cứ thôi thúc mãi trong em, khiến em lại bùng lên một khao khát mới. Khao khát được trở lại thăm hồ Gươm trong một ngày gần nhất.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 13)

Mùa hè năm ngoái em được ba dẫn đi chơi nhà cô ruột ở thành phố Đà Lạt, mảnh đất Tây Nguyên lãng mạn, nên thơ. Em thực sự bị hút bởi cảnh đẹp và khí hậu mát mẻ, trong lành của xứ sở thần tiên này. Em đã có những ngày khám phá từng địa danh, di tích của Đà Lạt. Tuy chưa được đi hết nhưng em rất ấn tượng với mảnh đất này.

Đà Lạt là thành phố thuộc tỉnh Lâm Đồng, người ta thường gọi đây là thành phố cao nguyên vì nó được bao bọc xung quanh toàn núi là núi, trùng trùng điệp điệp. Đà Lạt gắn với những đồi thông bạt ngàn, những con đường chênh vênh và rất nhiều điểm đến thú vị.

Cô dẫn em đi Thung lũng tình yêu, Hồ Than Thở, Dinh Bảo Đại, Thiền Viện Trúc lâm, trường Cao đẳng Đà Lạt, Lang Biang huyền thoại…Mỗi một nơi đều để lại trong em những dấu ấn riêng. Tuy nhiên em vẫn thích nhất là được đến Thiền Viện Trúc Lâm, cách trung tâm thành phố Đà Lạt tầm 5km, đường đi chênh vênh. Người ta có thể đi cáp treo đến Thiền Viện, nhưng cô em chở em đi bằng xe máy. Từ xa xa Thiền viện Trúc Lâm tựa như một tiên cảnh mọc lên giữa trần gian, mờ mờ ảo ảo hiện lên giữa trùng điệp núi rừng. Thiền viện Trúc lâm chính là một địa danh nổi tiếng, là ngôi chùa lớn của Đà Lạt, hằng năm đón rất nhiều du khách.

Bước vào cổng của thiền viện, mọi người rất thành kính, trang nghiêm, vì đây là cửa Phật, chốn linh thiêng. Mọi người nô nức như đi trẩy hội đầu năm.

Trong chính điện thờ Phật Thích Ca cầm cành hoa sen, hai bên là Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử và Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi trắng 6 ngà. Bởi vậy, du khách, phật tử đến đây để dâng hương, cầu xin an bình, may mắn.

Bên trong khuôn viên của Thiền viện Trúc lâm có rất nhiều ngôi chùa nhỏ, có chỗ cho các tăng ni phật tử từ thập phương về đây cùng niệm phật. Mọi người đi lại, nói chuyện nhỏ nhẹ ở bên trong điện thờ, khấn bái, thắp hương để cầu may.

Đặc biệt ở thiền viện Trúc Lâm có rất nhiều loại hoa khoe sắc quanh năm, hoa cẩm tú cầu nở rộ, bông to tròn chen chúc bên những khóm hoa hồng, hoa cúc…Mỗi loại hoa đều mang một vẻ đẹp riêng khiến cho người tham quan ngỡ ngàng.

Đến thiền viện Trúc Lâm, nhiều người sẽ đi tha hồ ngắm cảnh hồ Tuyền Lâm được bao quanh là những hàng cây dương liễu rủ màu xanh. Ở trong hồ có chứa rất nhiều cá, mọi người chen chúc nhau chụp ảnh.

Đứng từ thiền viện em nhìn ra xa, thấy thành phố Đà Lạt mờ mờ ảo ảo, tràn ngập trong màn sương thật đẹp.

Khi rời chân khỏi thiền viện Trúc Lâm, em thấy có chút gì đó luyến tiếc với mảnh đất Phật này. Em hi vọng rằng sẽ sớm quay trở lại đây vào ngày gần nhất.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 14)

Vịnh Hạ Long một kiệt tác của thiên nhiên được công nhận là di sản thế giới, là một trong những điểm thu hút nhiều khách du lịch nhất tại Việt Nam. Tự hào thay khi chúng ta được sở hữu một danh lam thắng cảnh tuyệt vời đến thế.

Hạ Long theo nghĩa đen có nghĩa là Rồng bay xuống. Cái tên này gắn liền với một truyền thuyết đã được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Truyền thuyết kể lại rằng ngay từ những ngày đầu lập nước, người Việt đã bị giặc ngoại xâm tấn công theo đường biển. Biết trước được điều này Ngọc Hoàng đã sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Khi thuyền giặc chuẩn bị ồ ạt tiến vào bờ cũng là lúc đàn Rồng từ trời cao bay xuống. Đàn Rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá ngọc bích trên biển. Những hòn đảo liên kết với nhau tạo nên bức tường thành vững chắc làm đoàn thuyền giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột, đâm vào các đảo đá và đâm vào nhau vỡ tan tành. Sau khi giặc ngoại xâm bị đánh đuổi ra khỏi bờ cõi, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời nữa vì họ đã say mê vẻ đẹp của nước và biển nơi hạ giới. Họ quyết định ở lại chính nơi mà trận chiến đã diễn ra. Vị trí mà Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long và nơi mà Rồng con đáp xuống, cúi đầu chào mẹ của mình chính là Bái Tử Long, nơi những chiếc đuôi quẫy mạnh được gọi là Bạch Long Vĩ.

Vịnh Hạ Long là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ Tây vịnh Bắc Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh. Vịnh Hạ long được hình thành do sự vận động của đá và nước, là một tác phẩm nghệ thuật địa lí được hoàn thành sau hàng triệu năm biến đổi của địa chất. Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậu và văn hóa, với vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc và quần đảo Cát Bà phía Tây Nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.553km² bao gồm 1.960 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi.

Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh thuỷ mặc khổng lồ vô cùng sống động. Đó là những tác phẩm tạo hình tuyệt mỹ, tài hoa của tạo hoá, của thiên nhiên biến hàng ngàn đảo đá vô tri tĩnh lặng kia trở nên những tác phẩm điêu khắc, hội họa hoàn mỹ với muôn hình dáng vẻ yêu kiều, vừa rất quen thuộc vừa như xa lạ với con người. Hàng ngàn đảo đá nhấp nhô trên sóng nước lung linh huyền ảo, vừa khoẻ khoắn hoành tráng nhưng cũng rất mềm mại duyên dáng, sống động. Đi giữa Hạ Long với muôn ngàn đảo đá, ta ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hoá đá nơi đây. Đảo thì giống hình ai đó đang hướng về đất liền – hòn Đầu Người; đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước – Hòn Rồng; đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá – hòn Lã Vọng; và kia hai cánh buồm nâu lực lưỡng đang rẽ sóng nước ra khơi – hòn Cánh Buồm; rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước – hòn Trống Mái; đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất – hòn Lư Hương… Tất cả đều rất thực, thực đến kinh ngạc. Những đảo đá diệu kỳ ấy biến hoá khôn lường theo thời gian và góc nhìn. Tới đây ta mới nhận ra tất cả chúng không phải là những hòn đảo vô tri tĩnh lặng mà như có hồn và đều sống động.

Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Sửng Sốt, hang Trinh Nữ, động Tam Cung… Đó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian. Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là “kỳ quan đất dựng giữa trời cao”. Bao tạo nhân mặc khách từ khắp năm châu khi đặt chân đến đây đều cảm thấy bàng hoàng trước vẻ đẹp kỳ vĩ của Hạ Long, dường như họ đều cảm thấy lúng túng và bất lực bởi vốn từ hiện có vẫn chưa đủ để mô tả vẻ đẹp của Hạ Long.

Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với những trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc Việt Nam với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn – nơi có thương cảng cổ sầm uất vào thế kỷ thứ 12; có núi Bài Thơ lịch sử; cách đó không xa dòng sông Bạch Đằng – là chứng tích của hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của các thế hệ ông cha chống giặc ngoại xâm. Không chỉ có vậy, Hạ Long còn là một trong những cái nôi của con người với nền Văn hoá Hạ Long huy hoàng thời Hậu kỳ đồ đá mới tại những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng…

Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới… Với hàng ngàn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng như tôm, cá, mực… Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.

Với các giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất, địa mạo vịnh Hạ Long hội tụ những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch với loại hình đa dạng. Đến vịnh Hạ Long, chúng ta có thể tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham quan ngắm cảnh, tắm biển, bơi thuyền, thả dù, lặn khám phá rặng san hô, câu cá giải trí… Vùng vịnh thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt hải sản do có các điều kiện thuận lợi: Khí hậu tốt, diện tích bãi triều lớn, nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao và đa dạng với cá song, cá giò, sò, tôm, bào ngư, trai ngọc các loại.

Hiện nay, vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Hạ Long là một điểm du lịch hấp dẫn vì cảnh quan nơi đây thật đẹp và hữu tình. Phong cảnh Hạ Long không bao giờ bị tẻ nhạt, mỗi một mùa lại mang đến cho Hạ Long một sắc thái riêng đầy ấn tượng. Vịnh Hạ Long là nơi có nguồn tài nguyên dồi dào, hằng năm cung cấp hải sản cho các nhà máy chế biến.

Vịnh Hạ Long là một di sản văn hóa đáng tự hào của dân tộc. Ngày nay, vịnh Hạ Long vẫn đang thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, mang lại nhiều lợi ích cho nước nhà, chúng ta cần ra sức bảo vệ và giữ gìn vịnh Hạ Long để vịnh ngày càng xanh tươi hơn, mãi mãi là niềm tự hào của đất nước.

Giới thiệu về một di tích hoặc danh lam thắng cảnh lớp 5 (mẫu 15)

Xứ Đoản quê là một vùng đất trung du nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh. Núi Ba Vì (Tản Viên) sừng sững phía trời Tây, gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh- Thủy Tinh. Tương truyền rằng trên đỉnh núi cao nhất, Sơn Tinh vẫn sống hạnh phúc bên người vợ dịu hiền, xinh đẹp là Mị Nương. Cuộc giao tranh dữ dội giữa Thần Núi và Thần Nước cách đây mấy ngàn năm còn để lại dấu vết rải rác suốt một dải đất ven chân núi. Sơn Tinh được nhân dân coi là vị phúc thần và lập đền thờ. Ngôi đền ấy có tên là đền Và.

Đền Và nằm giữa khu rừng lim cổ thụ, trên một gò đất cao và rộng gần làng Vân Gia, cách thị xã Sơn Tây hơn hai ngàn cây số. Ngôi đền rất lớn, được xây dựng cách đây đã hàng ngàn năm. Các cây cột trong đền toàn bằng gỗ lim màu nâu bóng, được kê trên những trụ đỡ bằng đá xanh chạm khắc công phu. Mái đền lợp ngói vảy cá, dấu vết thời gian in đậm ở màu rêu phong cổ kính. Các đầu đao uốn cong, tạo nét nhẹ nhàng, thanh thoát. Sân đèn lót gạch Bát Tràng, qua ngần ấy năm vẫn giữ nguyên màu đỏ như son.

Trên điện thờ đèn lung linh, khói nhang trầm thơm ngát , tạo nên không khí huyền ảo thiêng liêng. Mỗi năm, vào dịp lễ hội đền Và, khách hành hương từ khắp nơi đổ về đây đông nghịt, dâng hương hoa cầu khấn Sơn thần phù hộ độ trì cho mọi điều đều tốt đẹp.

Dưới gốc những cây lim già là bãi cỏ mịn màng. Du khách làm lễ xong có thể ngồi tựa lưng hóng gió, phóng tầm mắt ra xa ngắm phong cảnh hữu tình, ngắm bầu trời xứ Đoài mây trắng nhởn nhơ bay. Còn nếu vui chân, xin mời hãy đi vào những xóm thôn quanh đền để được nghe các cụ già kể lại truyền thuyết về cuộc quyết chiến giữa quân tướng của Sơn Tinh chống lại thuồng luồng, ba ba, binh tôm, tướng cá của Thủy Tinh. Kết cục, Thủy Tinh đại bại, phải rút quân về. Một số chạy không kịp bị giết chết, trong đó có tướng cá trê bị chém đứt đôi, đầu một nơi, thân một nẻo. Giờ vẫn còn một tảng đá hình thù giống như phần đuôi cá trê nằm giữ lòng suối cạn của xóm có tên gọi là xóm Cá Trê.

Từ trên đê sông Hồng, vào mỗi buổi chiều tà, ta có thể nhìn thấy rất rõ núi Ba Vì sừng sững in bóng trên nền trời hoàng hôn đỏ sẫm. Dáng núi mới uy nghi, hùng vĩ làm sao! Quanh ba ngọn núi, mây trắng bồng bềnh, vấn vít như những tấm khăn voan mỏng khiến cho khung cảnh càng thêm thơ mộng.

Xứ Đoài gắn với nhiều truyền thuyết lịch sử gần bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Có một cái gì đó thân thương và thiêng liêng ràng buộc mỗi con người vào mảnh đất này, cho nên dù sống ở bất cứ phương trời nào họ cũng vẫn gửi nhớ, gửi thương về đó.

Cũng như bao người con khác của quê hương, em yêu mến và tự hào về nơi chôn nhau cắt rốn của mình và muốn được góp công sức nhỏ bé vào việc gìn giữ và xây dựng quê hương ngày càng tươi đẹp hơn.

1 4,507 16/01/2026