Câu hỏi:
17/06/2026 239Tìm đọc thêm một số văn bản thông tin giới thiệu một danh lam thắng cảnh trong và ngoài nước.
Trả lời:
Giải bởi Vietjack
Cố đô Hoa Lư - Dấu ấn vàng son của một thời dân tộc oai hùng
Cố đô Hoa Lư sở hữu diện tích rộng rãi ấn tượng lên đến 300ha với các công trình kiến trúc có giá trị cao về mặt văn hóa, lịch sử cùng cảnh sắc non nước hữu tình, Cố đô Hoa Lư là một trong bốn vùng lõi thuộc Quần thể danh thắng Tràng An, được UNESCO chính thức công nhận là Di sản văn hóa kép đầu tiên và duy nhất tại Đông Nam Á vào năm 2014. Cố đô cũng là một trong những điểm tham quan tại Ninh Bình được nhiều người yêu thích bậc nhất hiện nay.

Ấn tượng toàn cảnh Cố đô Hoa Lư nhìn từ trên cao
Nằm trên địa bàn giáp ranh giới giữa hai huyện Hoa Lư, Gia Viễn cùng thành phố Ninh Bình. Nếu có ý định tham quan Cố đô, bạn có thể di chuyển bằng các loại phương tiện như xe khách, máy bay, tàu hỏa đều được.
Cố đô Hoa Lư là đế đô đầu tiên của nước ta, tồn tại trong 42 năm. Mảnh đất này là nơi đã chứng kiến sự nghiệp dựng nước và giữ nước oai hùng của 12 năm triều Đinh (968 – 980), 29 năm triều Tiền Lê (980 – 1009) và đầu nhà Lý (1009 – 1010).
Với địa thế đồi núi trùng điệp bao bọc xung quanh vành đai kinh đô như tấm bình phong vững chãi, cùng dòng Hoàng Long uốn khúc và cánh đồng Nho Quan, Gia Viễn với hào sâu, Hoa Lư là vùng đất có giá trị cao về mặt quân sự. Chính tại vùng đất này, năm 968, Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế, lập ra nước Đại Cồ Việt oai hùng, và Hoa Lư trở thành trung tâm chính trị, đồng thời là đế đô đầu tiên của nước ta.
Đến thời vua Lý Thái Tổ, ông đã đưa ra quyết định dời dô lịch sử, và Hoàng thành Thăng Long chính là nơi được lựa chọn khi nhận ra kinh đô Hoa Lư chật hẹp, khó mở mang thành đô và không phù hợp với vị thế đất nước lúc bấy giờ.
Chính quyết định mang tính chất lịch sử này đã kết thúc những tháng ngày Hoa Lư là vùng đất cố đô của nước ta. Tuy nhiên, hệ thống triều đình và cơ sở vật chất của Hoàng thành Thăng Long lúc bấy giờ đều thừa hưởng từ kinh đô Hoa Lư ngày trước. Tuy sau này các vua không sinh sống tại đây nữa, nhưng Cố đô Hoa Lư vẫn tiếp tục được xây dựng những công trình kiến trúc kiên cố với đền, chùa, đền thờ và được bảo tồn cho đến tận ngày nay.

Nếu có dịp về với vùng đất cố đô trong hành trình khám phá Ninh Bình, bạn chắc chắn sẽ ngạc nhiên trước cảnh sắc trầm mặc, hoài cổ và phảng phất dư vị thời gian nơi đây. Nhưng ở đâu đó nơi thành lũy bờ tường, bạn vẫn sẽ nhận ra nét uy nghi, oai linh của một đế đô nguy nga tráng lệ ngày trước.
Với diện tích rộng rãi ấn tượng lên đến hơn 300ha, Cố đô Hoa Lư là quần thể di tích với các công trình kiến trúc tường thành, hang động, đền chùa, lăng mộ và những công trình khác có giá trị lịch sử và văn hóa cao. Cố đô được chia làm 3 vùng, bao gồm: vùng bảo vệ đặc biệt, vùng đệm và các di tích liên quan.
Vùng bảo vệ đặc biệt bao gồm toàn bộ khu vực bên trong thành Hoa Lư, với những di tích còn tồn tại cho đến ngày nay như đền vua Lê Đại Hành, đền vua Đinh Tiên Hoàng, đền thờ Công chúa Phất Kim, chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên, chùa Kim Ngân, bia Câu Dền, chùa Cổ Am, phủ Chợ, hang Bim, chùa Duyên Ninh, sông Sào Khê và tường thành, nền điện dưới lòng đất.
Trong khi đó, vùng đệm của Cố đô Hoa Lư lại bao gồm khu vực cảnh quan hai bên dòng Sào Khê, Quần thể danh thắng Tràng An với hệ thống chùa và Động Am Tiên, đình Yên Trạch, hang Muối, hang Quàn, hang Sinh Dược, hang Luồn, hang Địa linh, hang Ba Giọt, hang Nấu Rượu, chùa Bà Ngô, đền Trần, phủ Khống, phủ Động, động Liên Hoa, hang Bói, v.v.
Các di tích liên quan trong quần thể Cố đô Hoa Lư đóng vai trò quan trọng dưới thời nhà Đinh, bao gồm hệ thống chùa Bái Đính cổ, cổng Nam, cổng Động, động Hoa Lư, động Thiên Tôn, đền thờ Đinh Bộ Lĩnh cùng những di tích thờ vua Đinh khác ở tỉnh Ninh Bình.

Đền thờ thần Cao Sơn nằm yên bình bên dòng sông vắng
Trải dài khắp hơn 1.000 năm lịch sử, những công trình di tích có ý nghĩa quan trọng nơi Cố đô Hoa Lư vẫn được bảo tồn và giữ gìn cho đến tận ngày nay. Nổi bật hơn cả là đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và đền vua Lê Đại Hành.
Tọa lạc nơi xã Trường Yên – vốn là trung tâm thành Đông của cố đô ngày trước – đền vua Đinh Tiên Hoàng tọa lạc tại vị thế cực kỳ lý tưởng: phía trước là núi Mã Yên, nơi mộ vua Đinh oai linh nằm đó ngắm nhìn vẻ đẹp non sông. Đền được khởi công xây dựng từ thời nhà Lý theo kiểu ‘nội công, ngoại quốc’, mô phỏng hình dáng của kiến trúc kinh đô xưa, sau đó được kiến thiết lại dưới thời Hậu Lê.
Là một trong những công trình kiến trúc độc đáo của nước ta được xây dựng từ thế kỷ 17, đền vua Đinh Tiên Hoàng là quần thể bao gồm các công trình uy nghi như ngọ môn quan, núi giả, hồ sen, vườn hoa, nghi môn ngoại, nghi môn nội cùng ba tòa bái đường, Thiên Hương và hậu cung. Trong cùng là Hậu đặt tượng vua Đinh cùng các con trai ông. Ngày nay, nơi đền thờ vua vẫn còn đó những cổ vật quý báu như đôi voi chầu, cặp bảo vật long sàng đá (sập đá) được đặt ở vị trí Sân rồng, tạc hoàn toàn từ đá xanh nguyên khối với những đường nét chạm khắc tinh xảo.
Không chỉ vậy, đền vua Đinh còn được trang trí bởi nhiều hình dáng, họa tiết chạm khắc tinh xảo trên những cột gỗ, đá với hình rồng, mây, tiên nữ, hoa lá, v.v Đây là những minh chứng rõ nét nhất thể hiện được sự tài hoa, khéo léo của những người nghệ nhân của thế kỷ 17 ngày trước.
Tọa lạc tại vị trí cách đền vua Đinh khoảng độ 500m chính là đền vua Lê Đại Hành với quy mô nhỏ hơn. Ngôi đền được xây dựng với ba tòa gồm Bái Đường, Thiên Hương thờ Phạm Cự Lượng – người có công giúp Lê Hoàn lên ngôi ngày trước. Ở khu vực chính cung là nơi thờ vua Lê Đại Hành, bên trái là Lê Ngọa Triều, con trai vua Lê, bên phải thờ hoàng hậu Dương Vân Nga. Trước đền là quảng trường trung tâm Cố đô Hoa Lư, sau đền là hào nước bảo vệ cố đô ngày trước chạy quanh dưới chân núi Đìa.
Ngày nay, nơi đền vua Lê vẫn còn đó những dấu tích kiến trúc cổ với những mảng chạm trổ, điêu khắc công phu và cả dấu tích của nền cung điện cũ với các món đồ gốm sứ cổ. Các hiện vật quý này bây giờ vẫn đang được lưu trữ tại phòng bảo tàng phía trái đền.
Nằm bên cạnh đền vua Lê Đại Hành và chùa Nhất Trụ chính là đền thờ Công chúa Phất Kim, con gái của vua Đinh Tiên Hoàng. Đền là nơi người dân xây dựng để suy tôn người phụ nữ hiền lành, chịu nhiều sóng gió của thế kỷ X ngày trước.
Không chỉ là đế đô đầu tiên của đất nước ta ngày trước, Cố đô Hoa Lư ngày nay vẫn còn đó những công trình kiến trúc có ý nghĩa to lớn về văn hóa, lịch sử, thể hiện được một thời dân tộc oai hùng. Nếu có dịp về với vùng đất Ninh Bình, đừng bỏ lỡ cơ hội một lần được ghé đến tham quan nơi cố đô bạn nhé.
Bảo Ngọc
Nguồn: Tổng hợp
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Câu 1:
Theo cảm nhận của em, bức tranh thiên nhiên mùa xuân của làng quê Việt Nam được gợi tả trong khổ thơ thứ nhất là quen thuộc hay mới lạ? Vì sao?
Câu 2:
Hãy chọn và phân tích một yếu tố nội dung hoặc nghệ thuật mà em có ấn tượng trong đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn.
Câu 3:
Hãy viết bài văn nghị luận phân tích một bài thơ mà em yêu thích, làm rõ chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và hiệu quả thẩm mĩ của nó.
Câu 4:
Giải thích các từ ngữ Hán Việt sau:
- Bình minh
- Văn minh
- Hắc bạch phân minh
Câu 5:
Phân biệt ý nghĩa của các cặp từ ngữ Hán Việt sau:
- Tương đồng/ đồng thời
- Đồng thoại/ đồng dao
- Đồng bệnh tương lân/ đồng cam cộng khổ
Câu 6:
Xác định ý nghĩa của các yếu tố Hán Việt đồng âm khác nghĩa trong các nhóm từ ngữ sau:
- Thần đồng, đồng tâm hiệp lực
- Đồng minh hội, tường minh
Câu 7:
Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản: Bài văn phân tích, đánh giá tác phẩm Trong lời mẹ hát (Trường Nam Hương).
Câu 8:
Em biết truyện dân gian nào kể về cuộc đấu tranh giữa người với quỷ? Hãy chia sẻ với các bạn trong lớp.
Câu 9:
Có ý kiến cho rằng: Nàng Si-ta được Lưu Quang Thuận - Lưu Quang Vũ viết phỏng theo nhân vật, cốt truyện dân gian. Đó là câu chuyện thuộc về một thời đã xa. Tuy vậy, tác phẩm vẫn có khả năng gây xúc động cho người đọc/ người xem thời nay. Em có đồng ý với nhận định trên không? Vì sao?
Câu 10:
Ở Bài 1. Thương nhớ quê hương, em đã học kĩ năng thảo luận về một vấn để đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi. Trong bài học này, em sẽ vận dụng những kĩ năng đã có để thảo luận về cách thể hiện bản thân của giới trẻ hiện nay trong buổi sinh hoạt lớp.
Câu 11:
Phân tích tính cách của nhân vật Pơ-liêm. Lí giải nguyên nhân gây ra nỗi bất hạnh của Si-ta, Pơ-liêm và sự chia lìa giữa hai người ở phần cuối văn bản.
Câu 12:
Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ,... có tác dụng như thể nào trong việc gợi tả cảnh sắc thiên nhiên và hình ảnh con người trong ba khổ thơ đầu?
Câu 13:
Liệt kê vào bảng sau một số yếu tố của các văn bản kịch (làm vào vở):
|
Yếu tố |
Pơ-liêm, quỷ Riếp và Ha-nu-man |
Tình yêu và thù hận |
Cái bóng trên tường |
|
Xung đột/ Hành động |
|
|
|
|
Đối thoại, Độc thoại |
|
|
|
|
Nội dung câu chuyện |
|
|
Câu 14:
Xác định xung đột, kiểu xung đột kịch và cho biết cách thể hiện xung đột kịch trong văn bản Tình yêu và thù hận có gì đáng lưu ý.
Câu 15:
Phân tích ý nghĩa của hình ảnh “cái bóng trên tường” trong nhan đề và trong các lời thoại dưới đây:
Bóng người vợ - Cứ mỗi tối, anh thắp đèn, thì em sẽ về, cứ mỗi tối anh thắp đèn lên thì sẽ thấy em. Anh thắp đèn lên, sẽ thấy em (biến đi).
Người chồng - (tỉnh dậy) Em ơi, chẳng phải riêng một mình anh mà từ nay, hễ có ai thắp đèn buổi tối, trông lên cái bóng trên tường thì sẽ nhìn thấy em.
