Tìm kiếm
Chương III: Nguyên tắc và chế độ làm việc
| Số hiệu: | 84-QĐ/TW | Loại văn bản: | Quyết định |
| Nơi ban hành: | *** | Người ký: | Võ Văn Thưởng |
| Ngày ban hành: | 26/09/2022 | Ngày hiệu lực: | 26/09/2022 |
| Ngày công báo: | *** | Số công báo: | Đang cập nhật |
| Lĩnh vực: | Bộ máy hành chính | Tình trạng: | Còn hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Đảng ủy, ban thường vụ, thường trực đảng ủy làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức; chấp hành nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của cấp trên và nghị quyết của đại hội đảng bộ, nghị quyết của đảng ủy.
2. Cá nhân được quyền phát biểu, quyền bảo lưu ý kiến và báo cáo lên cấp ủy cấp trên nhưng phải chấp hành nghị quyết của tập thể, không được tuyên truyền, phổ biến ý kiến bảo lưu ra bên ngoài.
3. Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của đảng ủy; phát huy sức mạnh tổng hợp của đơn vị. Nêu cao tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân, nhất là người đứng đầu. Thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát.
1. Đảng ủy, ban thường vụ, thường trực đảng ủy làm việc theo chương trình, kế hoạch công tác đã được tập thể thông qua; theo chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, của cấp trên hoặc khi có yêu cầu đột xuất.
Đảng ủy có chương trình công tác toàn khoá và hằng năm. Ban thường vụ đảng ủy làm việc theo chương trình công tác toàn khoá, hàng năm, 6 tháng, hằng quý, hằng tháng (có điều chỉnh khi cần).
2. Văn phòng đảng ủy phối hợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng ủy, các cơ quan chuyên môn của đơn vị và các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu xây dựng chương trình làm việc của đảng ủy, ban thường vụ, thường trực đảng ủy trong từng thời gian cụ thể.
3. Ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, thường trực đảng ủy chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch công tác của mình theo chương trình công tác của đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy.
1. Đảng ủy họp thường lệ ba tháng một lần hoặc đột xuất khi cần. Ban thường vụ đảng ủy họp thường lệ mỗi tháng một lần hoặc đột xuất khi cần. Hội nghị đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy phải có ít nhất 2/3 số thành viên được triệu tập tham dự.
Thường trực đảng ủy hội ý, trao đổi thường xuyên hoặc đột xuất khi cần để kịp thời giải quyết công việc.
Các ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy không là ủy viên ban chấp hành được mời dự hội nghị đảng ủy (trừ nội dung họp riêng). Tùy theo nội dung, ban thường vụ có thể mời lãnh đạo các đơn vị, đầu mối trực thuộc không là ủy viên ban chấp hành dự họp để báo cáo, tiếp thu nội dung liên quan.
2. Ban thường vụ, thường trực đảng ủy có trách nhiệm chuẩn bị hội nghị đảng ủy, hội nghị ban thường vụ đảng ủy; xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, phạm vi, thành phần của mỗi hội nghị. Đối với những vấn đề đột xuất, chưa có trong chương trình hội nghị, nếu xét thấy quan trọng và cấp thiết thì đơn vị chủ trì báo cáo thường trực đảng ủy hoặc ban thường vụ đảng ủy xem xét, quyết định.
3. Các đơn vị được phân công chuẩn bị phải gửi tài liệu phục vụ hội nghị đến văn phòng đảng ủy trước kỳ họp ít nhất... ngày để thẩm định; văn phòng đảng ủy gửi giấy mời và tài liệu hội nghị đến các thành viên trước kỳ họp... ngày làm việc đối với hội nghị đảng ủy và trước... ngày làm việc đối với hội nghị ban thường vụ đảng ủy (trừ trường hợp hội nghị đột xuất).
1. Ban thường vụ, thường trực đảng ủy giao văn phòng đảng ủy chủ trì, phối hợp ban tuyên giáo đảng ủy có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin theo quy định và những vấn đề nổi bật của đảng bộ cho ủy viên ban chấp hành đảng bộ.
2. Các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng ủy và các tổ chức chính trị - xã hội báo cáo (bằng văn bản) với ban thường vụ đảng ủy về tình hình, kết quả triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo của đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao theo yêu cầu. Khi có tình hình, công việc đột xuất, cấp thiết hoặc vượt quá thẩm quyền phải kịp thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của thường trực, ban thường vụ đảng ủy.
3. Ủy viên ban chấp hành đảng bộ, đại biểu được mời dự hội nghị phải thực hiện nghiêm chế độ bảo mật về nội dung, tài liệu hội nghị và kỷ luật phát ngôn theo quy định của Đảng và Nhà nước.
1. Các ý kiến chỉ đạo của thường trực đảng ủy tại cuộc họp hoặc làm việc đều phải do văn phòng đảng ủy thông báo bằng văn bản (trừ những việc bí thư, phó bí thư đảng ủy trực tiếp chỉ đạo xử lý và không yêu cầu ra văn bản).
2. Kết luận, quyết định, văn bản chỉ đạo của tập thể thường trực, của từng đồng chí trong thường trực đảng ủy phải bảo đảm đúng thể thức, thể loại văn bản của Đảng, ký ban hành đúng thẩm quyền và được phát hành, quản lý, lưu trữ theo quy định.
3. Nghị quyết, quyết định của đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy phải có hơn một nửa số thành viên đương nhiệm tán thành.
Trong trường hợp nội dung vấn đề phải giải quyết không phức tạp hoặc không tổ chức họp ban thường vụ thì thường trực đảng ủy chỉ đạo văn phòng đảng ủy gửi văn bản xin ý kiến thành viên ban thường vụ đảng ủy (trừ công tác cán bộ, kỷ luật đảng), khi có hơn một nửa thành viên ban thường vụ tán thành thì ý kiến quá bán đó coi như nghị quyết của cuộc họp; trường hợp, tuy đã có hơn một nửa thành viên tán thành nhưng còn có ý kiến khác nhau về những vấn đề quan trọng thì cần đưa ra hội nghị ban thường vụ thảo luận, tạo sự thống nhất trước khi quyết định.
1. Hằng năm, tập thể ban thường vụ đảng ủy, bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình, kiểm điểm trách nhiệm nêu gương theo quy định. Kết quả kiểm điểm được báo cáo tại hội nghị đảng ủy để lấy ý kiến góp ý và báo cáo cấp trên theo quy định.
2. Cuối nhiệm kỳ, đảng ủy kiểm điểm công tác lãnh đạo, chỉ đạo; ủy viên ban chấp hành đảng bộ, ủy viên ban thường vụ đảng ủy tiến hành tự phê bình và phê bình gắn với kiểm điểm đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết đại hội.
1. Hằng năm, ban thường vụ đảng ủy làm việc với ban thường vụ các đảng bộ, chi ủy các chi bộ trực thuộc để nắm tình hình và tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
2. Bí thư, phó bí thư đảng ủy chủ động xây dựng kế hoạch làm việc với các tổ chức chính trị - xã hội và tiếp xúc, đối thoại với cán bộ, đảng viên.
3. Ủy viên ban chấp hành đảng bộ xây dựng kế hoạch đi công tác cơ sở để nắm tình hình, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị của cán bộ, đảng viên, người lao động, qua đó giúp cơ sở kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
1. Căn cứ quy định và yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ đạo, ban thường vụ đảng Ủy ban hành chương trình, kế hoạch và chỉ đạo sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Trung ương, của cấp trên và của đảng ủy; báo cáo với Trung ương, cấp trên và thông báo cho cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc theo quy định.
2. Các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Trung ương, của cấp trên và của đảng ủy thuộc lĩnh vực nào thì ban thường vụ đảng ủy giao cho đơn vị có liên quan chủ trì chịu trách nhiệm chuẩn bị nội dung sơ kết, tổng kết. Những vấn đề liên quan nhiều cơ quan, đơn vị thì ban thường vụ giao một đơn vị chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan hoặc thành lập tổ công tác để chuẩn bị nội dung sơ kết, tổng kết.
