1. Tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được chuyển ra nước ngoài:
a) Phần lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh;
b) Các khoản thu nhập do việc cung cấp dịch vụ và chuyển giao công nghệ;
c) Các khoản tiền cho vay và lãi thu được từ các khoản cho vay;
d) Các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình.
Việc chuyển các khoản tiền nói trên chỉ được thực hiện sau khi đã nộp đủ các khoản thuế phải nộp.
2. Tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài được chuyển ra nước ngoài phần góp vốn và số vốn tái đầu tư vào xí nghiệp sau khi đã thanh toán mọi khoản nợ, nếu có, trong những trường hợp kết thúc và giải thể xí nghiệp.
3. Việc chuyển vốn ra nước ngoài theo điều này thông thường được chia ra 3 năm bằng nhau. Trong trường hợp đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể cho chuyển trong thời hạn ngắn hơn.
4. Trong trường hợp số tiền dự định chuyển ra nước ngoài, theo điểm 2 điều này cao hơn số vốn ban đầu (gốc) đã góp và tái đầu tư thì tổ chức và cá nhân nước ngoài phải xin Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư chuẩn y.