Tìm kiếm
Phần thứ năm Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024: Điều khoản thi hành
| Số hiệu: | 59/2024/QH15 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Quốc hội | Người ký: | Trần Thanh Mẫn |
| Ngày ban hành: | 30/11/2024 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2026 |
| Ngày công báo: | 30/12/2024 | Số công báo: | Từ số 1537 đến số 1538 |
| Lĩnh vực: | Bộ máy hành chính, Thủ tục tố tụng dân sự | Tình trạng: | Chưa có hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Ngày 30/11/2024, Quốc hội thông qua Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, trong đó có quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có quy định áp dụng hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội như sau:
- Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, lối sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có tác dụng phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Trường hợp phải áp dụng hình phạt thì ưu tiên áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.
- Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội nếu thuộc trường hợp sau đây thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm:
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội;
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý.
Ngoài ra theo Điều 13 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 người chưa thành niên phạm tội cần được bảo đảm giữ bí mật cá nhân, cụ thể:
- Bí mật cá nhân của người chưa thành niên phải được tôn trọng, bảo vệ trong suốt quá trình tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, xử lý chuyển hướng, thi hành án và tái hòa nhập cộng đồng.
- Tòa án xét xử kín đối với vụ án hình sự có người chưa thành niên bị xâm hại tình dục hoặc trường hợp đặc biệt khác cần bảo vệ người chưa thành niên.
- Trường hợp người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tham gia tố tụng thì phải bố trí phòng cách ly hoặc các biện pháp bảo vệ khác.
Xem chi tiết nội dung tại Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số chương, điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 như sau:
b) Bỏ từ “tư pháp” tại điểm g khoản 1 Điều 134.
2. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số chương, điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15 và Luật số 34/2024/QH15 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau:
“Điều 7. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự
Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định. Đối với việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử liên quan đến người chưa thành niên thì còn phải thực hiện theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.”;
b) Bỏ cụm từ “quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;” tại điểm đ khoản 1 Điều 37 và điểm h khoản 1 Điều 42;
c) Bãi bỏ điểm đ khoản 1 Điều 39;
d) Bỏ cụm từ “thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;” tại điểm e khoản 2 Điều 45;
đ) Thay thế cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự” bằng cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên” tại điểm a khoản 1 Điều 230 và khoản 1 Điều 248;
e) Bổ sung cụm từ “hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên” vào sau cụm từ “của Bộ luật này” tại điểm a khoản 1 Điều 282;
g) Bỏ cụm từ “hoặc khoản 2 Điều 91” tại Điều 285;
h) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 330 như sau:
“2. Quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này, Luật Tư pháp người chưa thành niên.”;
k) Bổ sung cụm từ “và quyết định tố tụng quy định tại chương VII và chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên” vào sau cụm từ “của Bộ luật này” tại khoản 1 Điều 470;
l) Bổ sung cụm từ “và hành vi tố tụng quy định tại chương VII và chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên” vào sau cụm từ “của Bộ luật này” tại khoản 2 Điều 470.
3. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 như sau:
a) Bỏ cụm từ “, giáo dục tại trường giáo dưỡng” tại khoản 4 Điều 2;
b) Bãi bỏ khoản 15 Điều 3, điểm b khoản 1 Điều 132, khoản 2 Điều 133, khoản 2 Điều 135, mục 4 chương III và mục 3 chương X;
c) Bỏ cụm từ “hoặc người chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng” tại khoản 17 Điều 3.
4. Thay thế cụm từ “biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn khi được miễn trách nhiệm hình sự” bằng cụm từ “biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng” tại khoản 1 Điều 71 của Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 28/2018/QH14.
5. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2014/QH13, Luật số 23/2018/QH14, Luật số 67/2020/QH14, Luật số 03/2022/QH15, Luật số 31/2024/QH15 và Luật số 43/2024/QH15 như sau:
a) Bổ sung cụm từ “của Tòa án, biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án” vào sau cụm từ “quyết định hình sự” tại Điều 1;
b) Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 2 như sau:
“3. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có hiệu lực pháp luật.”.
6. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số khoản của Điều 7 của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:
“5. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân.”;
7. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 31 của Luật Cư trú số 68/2020/QH14 như sau:
“a) Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đang cư trú từ 01 ngày trở lên đối với bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang chấp hành án phạt quản chế, cải tạo không giam giữ; người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách; người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, người chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành;”.
1. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026:
a) Đối với vụ việc, vụ án đang trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm mà đến ngày 01 tháng 01 năm 2026 chưa kết thúc thì áp dụng các quy định của Luật này để giải quyết vụ việc, vụ án, trừ thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố hoặc thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam, việc tách vụ án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử mà chưa có sự tham gia tố tụng của người làm công tác xã hội thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án yêu cầu người làm công tác xã hội tham gia tố tụng theo quy định của Luật này.
Trường hợp thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố hoặc thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm còn lại không đủ thời gian để áp dụng đầy đủ thủ tục xử lý chuyển hướng nhưng có các căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các điều 35, 37 và 39 của Luật này thì cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên;
b) Đối với vụ án đang trong giai đoạn xét xử phúc thẩm mà đến ngày 01 tháng 01 năm 2026 chưa kết thúc thì Toà án cấp phúc thẩm phải căn cứ vào các quy định của Luật này để tiếp tục giải quyết vụ án, trừ thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, thời hạn tạm giam được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp xét thấy người chưa thành niên có căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các điều 35, 37 và 39 của Luật này thì Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm và quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng trong bản án phúc thẩm;
c) Đối với vụ án do Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đang thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng đến ngày 01 tháng 01 năm 2026 chưa kết thúc thì thẩm quyền giải quyết tiếp tục được áp dụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự cho đến khi kết thúc điều tra;
d) Đối với những bị can, bị cáo đang bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng đến ngày 01 tháng 01 năm 2026 không bị tạm giam theo quy định của Luật này thì Viện kiểm sát, Tòa án quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam đang áp dụng hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác theo quy định của Luật này và Bộ luật Tố tụng hình sự;
đ) Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà đến ngày 01 tháng 01 năm 2026 chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì áp dụng các quy định của Luật này và pháp luật có liên quan để thi hành.
2. Các điều khoản của Luật này quy định về hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, tù có thời hạn, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, án treo, hoãn chấp hành hình phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội quy định tại chương VI của Luật này được áp dụng kể từ ngày Luật này được công bố.
3. Các điều khoản của Luật này quy định về biện pháp xử lý chuyển hướng, hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, tù có thời hạn, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, án treo, hoãn chấp hành hình phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội quy định tại chương III và chương VI của Luật này thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2026 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, hoãn chấp hành hình phạt tù, xóa án tích.
4. Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 thì không được căn cứ vào những quy định của Luật này có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm, trừ trường hợp vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
5. Trường hợp người phạm tội đã bị kết án phạt tù trước ngày Luật này được công bố theo đúng các văn bản trước đây và bản án đã có hiệu lực pháp luật nếu người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có mức hình phạt tù cao hơn 09 năm và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 119, Điều 121 và Điều 122 của Luật này hoặc người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có mức hình phạt tù cao hơn 15 năm và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 119, Điều 121 và Điều 122 của Luật này thì kể từ ngày Luật này được công bố giải quyết như sau:
a) Trường hợp họ đã chấp hành bằng hoặc quá mức hình phạt tù cao nhất quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 119 của Luật này thì trại giam rà soát, có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi họ đang chấp hành án quyết định miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại;
b) Trường hợp họ đã chấp hành được một phần hình phạt nhưng chưa đến mức hình phạt tù cao nhất quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 119 của Luật này thì trại giam rà soát, có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi họ đang chấp hành án quyết định giảm mức hình phạt tù đã tuyên xuống còn 09 năm đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc 15 năm đối với người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;
c) Trường hợp họ đang được hoãn chấp hành hình phạt tù thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu rà soát, có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án quyết định giảm mức hình phạt tù đã tuyên xuống còn 09 năm đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc 15 năm đối với người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
6. Trường hợp người chưa thành niên bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo trước ngày Luật này được công bố theo đúng các văn bản trước đây và bản án đã có hiệu lực pháp luật nếu họ có thời gian thử thách trên 03 năm thì kể từ ngày Luật này được công bố giải quyết như sau:
a) Trường hợp họ đã chấp hành thời gian thử thách bằng hoặc quá 03 năm thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi họ cư trú quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại;
b) Trường hợp họ đã chấp hành được một phần thời gian thử thách nhưng chưa đến 03 năm thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi họ cư trú quyết định rút ngắn thời gian thử thách xuống còn 03 năm.
7. Khi thực hiện quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều này, Tòa án cần giải thích cho người được miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại, giảm mức hình phạt tù đã tuyên, rút ngắn thời gian thử thách của án treo biết là việc miễn, giảm, rút ngắn là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước ta, mà không phải oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do đó, họ không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 30 tháng 11 năm 2024.
IMPLEMENTATION CLAUSES
Article 177. Amendments, annulment of some chapters, articles of relevant laws
1. Some chapters and articles of the Criminal Code No. 100/2015/QH13, which has been amended by a number of articles under Law No. 12/2017/QH14 shall be amended and annulled as follows:
a) Chapter XII is annulled;
b) The Phrase “tư pháp” is removed from point g of clause 1 of Article 134.
2. Some chapters and articles of the Criminal Procedure Code No. 101/2015/QH13, which has been amended by a number of articles under Law No. 02/2021/QH15 and Law No. 34/2024/QH15 shall be amended and annulled as follows:
a) Amendments to Article 7:
“Article 7. Upkeep of socialist law enforcement regarding criminal procedures
Every activity of criminal procedures must abide by this Code. The processing of criminal information, filing of charges, investigation, prosecution and adjudication shall abide only by the grounds, procedures and formalities as defined by this Code. Lodging and processing of criminal information, filing of charges, investigation, prosecution and adjudication in respect of juveniles must also comply with the Law on Juvenile Justice.";
b) The phrase “quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;” (“decisions on the entrustment of persons under 18 to authorities and entities in charge of supervision”) at Point d of Clause 1 of Article 37 and Point h of Clause 1 of Article 42 shall be removed;
c) Point d of clause 1 of Article 39 is annulled;
d) The phrase “thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;” (“change of supervisors for perpetrators under 18") at Point e of Clause 2 of Article 45 shall be removed;
d) The phrase “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự” ("or as per justifications prescribed in Article 16 or Article 29 or Clause 2 of Article 91 of the Criminal Code") shall be replaced with the phrase “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên” ("or as per justifications prescribed in Article 16 or Article 29 of the Criminal Code" or juveniles eligible for diversion measures as prescribed in Law on Juvenile Justice”) at Point a of Clause 1 of Article 230 and Clause 1 of Article 248;
e) The phrase “hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên” ("juveniles eligible for diversion measures as prescribed in Law on Juvenile Justice") shall be added to after the phrase “của Bộ luật này” ("of this Code") at Point a of Clause 1 of Article 282;
g) The phrase "or clause 2 of Article 91” in Article 285 shall be removed;
h) Amendments to clause 2 of Article 330:
"2. The decisions in a first instance court, which are appealed, refer to decisions to suspend or dismiss the case or lawsuit against suspects and defendants and other decisions in the first instance court as per this Code and the Law on Juvenile Justice.”;
i) Chapter XXVIII shall be annulled;
e) The phrase “và quyết định tố tụng quy định tại chương VII và chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên” ("and procedural decisions prescribed in Chapter VII and Chapter VIII of the Law on Juvenile Justice") shall be added to after the phrase “của Bộ luật này” ("of this Code") at Clause 1 of Article 470;
l) The phrase “and proceedings prescribed in Chapter VII and Chapter VIII of the Law on Juvenile Justice” shall be added to after the phrase "of this Code" at Clause 2 of Article 470;
3. Some articles of Law on Enforcement of Criminal Judgments No. 41/2019/QH14 shall be amended and annulled as follows:
a) The phrase “, giáo dục tại trường giáo dưỡng” (“, education at reformatory”) shall be removed from clause 4 of Article 2;
b) Clause 15 of Article 3, Point b of Clause 1 of Article 132, Clause 2 of Article 133, Clause 2 of Article 135, Section 4 of Chapter III and Section 3 of Chapter X shall be annulled;
c) The phrase “hoặc người chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng” ("or persons serving educational measures at reformatory") shall be removed from Clause 17 of Article 3.
4. The phrase “biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn khi được miễn trách nhiệm hình sự” ("reprimand, community conciliation or edification at the commune, ward or town when being exempted from criminal liability") shall be replaced with the phrase “biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng” (“community-bases diversion measures) in Clause 1 of Article 71 of the Law on Children No. 102/2016/QH13, which has been amended by a number of articles under Law No. 28/2018/QH14.
5. Some articles of the Law on Civil Judgment Enforcement No. 26/2008/QH12 have been amended by a number of articles under Law No. 64/2014/QH13, Law No. 23/2018/QH14, Law No. 67/2020/QH14, Law No. 03/2022/QH15, Law No. 31/2024/QH15 and Law No. 43/2024/QH1 shall be amended as follows:
a) The phrase "of the Court, the diversion measure of damage payment in the decision on applying diversion measure of the Investigation authority, the Procuracy, the Court" shall be added after the phrase "criminal decision" in Article 1;
b) Addition of clause 3 after clause 2 of Article 2:
“3. Decision on applying diversion measure of damage payment of the Investigation authority, the Procuracy, the Court shall have legal effect.”.
6. Some clauses of Article 7 of Law on Legal Aid No. 11/2017/QH14 shall be amended and annulled as follows:
a) Amendments to clause 5:
“5. Persons from 16 to under 18 years of age who are persons facing denunciation or requisitions for charges, persons held in emergency custody, persons facing charges, crime victims, witness testifiers, persons serving diversion measures, and inmates.”;
b) Point dd of clause 7 shall be annulled.
7. Point a of Clause 1 of Article 31 of the Law on Residence No. 68/2020/QH14 shall be amended as follows:
“a) The citizen is out on bail; or is convicted but has yet to receive the sentence enforcement decision or has received the sentence enforcement decision but is out on bail or granted suspension of sentence enforcement; or is convicted and undergoing probation; or is under mandatory supervision or serving a community sentence; or is on parole; is serving community-based diversion measure, or serving educational measure at reformatory but is granted postponement, suspension of sentence enforcement, and leaves the commune-level administrative unit where they are residing for 01 day or more;”.
1. This Law comes into force from January 1, 2026, except for the case specified in Clause 2 of this Article.
2. Article 139, Clause 1 and Clause 2 of Article 162 of this Law comes into force from January 1, 2028.
Article 179. Transitional provisions
1. From January 1, 2026:
a) For cases in processing of criminal information, filing of charges, investigation, prosecution, and adjudication of first instance that have not been completed by January 1, 2026, the regulations of this Law shall apply to resolve the case, except for the investigation period, the period for deciding the prosecution or the period for preparing for first-instance trials, the period for temporary detainment, the period for detention, and the separation of cases, which shall comply with Criminal Procedure Code. In cases where the investigation, prosecution, and adjudication stages do not involve the participation of social workers in the proceedings, the Investigation Authority, the Procuracy, and the Court shall request social workers to participate in the proceedings in accordance with this Law.
If the remaining investigation period, the period for deciding prosecution, or the period for preparing for the first instance trial is not enough to fully apply the diversion procedure but there are grounds for applying the diversion measures prescribed in Articles 35, 37, and 39 of this Law, the presiding authority handling the case shall review and issue a decision to apply the diversion measures to the juvenile;
b) For cases in the stage of second-instance trial that have not ended by January 1, 2026, the second-instance court must base on the regulations of this Law to continue handling the case, except for the period for preparing for the second-instance trial and the period of detention, which shall comply with the Criminal Procedure Code.
If there are grounds for applying the diversion measures prescribed in Articles 35, 37 and 39 of this Law, the Trial Panel shall amend the first-instance judgment and decide to apply the diversion measures in the second-instance judgment;
c) For cases that are being handled and resolved by the Agency assigned to conduct a number of investigation activities within the authority prescribed in the Criminal Procedure Code but have not been completed by January 1, 2026, the authority to resolve the case shall comply with the Criminal Procedure Code until the investigation is completed;
d) For suspects and defendants who are being held in detention under the Criminal Procedure Code but have not been held in detention under the regulations of this Law by January 1, 2026, the Procuracy and the Court shall decide to cancel the detention measure currently applied or replace it with another preventive measure in accordance with this Law and the Criminal Procedure Code;
dd) For judgments and decisions of the Court that have come into effect but have not been enforced or have not been fully enforced by January 1, 2026, the regulations of this Law and relevant laws shall be applied for enforcement.
2. The clauses and articles of this Law on warnings, fines, definite-term imprisonment, decisions on penalties in cases of preparing to commit a crime, attempted crime, reduction of the imposed penalty, suspended sentences, postponement of execution of imprisonment, parole, expungement of convictions and other favorable provisions for offenders as prescribed in Chapter VI of this Law shall apply from the date of issuance of this Law.
3. The clauses and articles of this Law on diversion measures, warnings, fines, definite-term imprisonment, decisions on penalties in cases of preparing to commit a crime, attempted crime, reduction of the imposed penalty, suspended sentences, postponement of execution of imprisonment, parole, expungement of convictions and other favorable provisions for offenders as prescribed in Chapters III and VI of this Law shall apply crimes that occurred before 0:00 on January 1, 2026 but were discovered after that time, are being investigated, prosecuted, adjudicated or to those who are being considered for a reduction in the term of the sentence, postponement of execution of the imprisonment, or expungement of convictions.
4. For criminal acts for which a court judgment or decision has come into effect before January 1, 2026, regulations of this Law shall not be use as legal basis if they have different contents from the regulations of the law that were applied when the judgment was pronounced to lodge protests through the cassation procedure, except in cases of violations of the provisions in Clause 2 of this Article; in cases where the appeal is based on other grounds or has been appealed before January 1, 2026, the cassation review must comply with the provisions in Clauses 2 and 3 of this Article.
5. In case the offender has been sentenced to imprisonment before the date this Law is promulgated in accordance with previous documents and the judgment has come into legal effect, if the offender is from 14 to under 16 years of age who subject to imprisonment of more than 09 years and does not fall under the cases specified in Clause 4 of Article 119, Article 121 and Article 122 of this Law or the offender is from 16 to under 18 years of age and who subject to imprisonment of more than 15 years and does not fall under the cases specified in Clause 2 of Article 119, Article 121 and Article 122 of this Law, from the date this Law is promulgated, the case shall be resolved as follows:
a) In case they have served a term equal to or exceeding the maximum imprisonment prescribed in Clause 1 and Clause 3 of Article 119 of this Law, the prison shall review and submit an application to the Chief Justice of the Provincial People's Court or the Chief Justice of the Military Court of the military zone where they are serving their sentence on exemption from serving the remaining imprisonment;
b) In case they have served a part of their sentence but not yet reached the maximum term of imprisonment prescribed in Clause 1 and Clause 3 of Article 119 of this Law, the prison shall review and submit an application to the Chief Justice of the Provincial People's Court or the Chief Justice of the Military Court of the military zone where they are serving their sentence to decide to reduce the duration of the sentence to 09 years for offenders from 14 to under 16 years of age or 15 years for offenders from 16 to under 18 years of age;
c) In case they are being granted a postponement of imprisonment, the criminal judgment enforcement agency of the district-level police or the criminal judgment enforcement agency of the military zone shall review and submit an application to the Chief Judge of the Court that issued the decision on sentence enforcement to reduce the term of the sentence to 09 years for offenders from 14 to under 16 years of age or 15 years for offenders from 16 to under 18 years of age.
6. In case a juvenile is sentenced to imprisonment but given a suspended sentence before the date of issuance of this Law in accordance with previous documents and the judgment has come into effect, if their probation period is more than 03 years from the date this Law is promulgated, the case shall be resolved as follows:
a) In case they have served a probation period equal to or exceeding 03 years, the criminal judgment enforcement agency of the district-level police shall submit an application to the Chief Judge of the district-level People's Court, the Chief Judge of the Military Court of the area where they reside to decide to shorten the remaining probation period;
b) In case they have served a part of the probation period but less than 03 years, the criminal judgment enforcement agency of the district-level Police shall submit an application to the Chief Judge of the district-level People's Court, the Chief Judge of the Military Court of the area where they reside to decide to shorten the probation period to 03 years.
7. When implementing the regulations of Clauses 5 and 6 of this Article, the Court must explain to the person who is exempted from serving the remaining term of imprisonment, has their sentence reduced, or has the probationary period of the suspended sentence shortened that the exemption, reduction, or shortening is due to the new humane criminal policy of our State, and not a wrongful conviction caused by the presiding agency; therefore, they do not have the right to request for damages according to the provisions of the Law on State Compensation Liability.
This Law was passed by the 15th National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam, 8th session on November 30, 2024.
Cập nhật
Bài viết liên quan
Đồng phạm giết người được xác định như thế nào?
Đồng phạm giết người được xác định như thế nào?
Trong một vụ án giết người có sự tham gia của nhiều người, việc xác định rõ ai là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và ai là người đóng vai trò hỗ trợ, xúi giục hay chủ mưu là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Theo Bộ luật Hình sự năm 2025, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Tuy nhiên, không phải ai có mặt tại hiện trường cũng bị xem là đồng phạm giết người. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào để xác định một người là đồng phạm trong tội danh này? Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể các dấu hiệu pháp lý để nhận diện đồng phạm trong tội giết người theo quy định mới nhất. 16/06/2025Khi nào bị xem đồng phạm giết người? Đồng phạm trong vụ án giết người bị phạt bao nhiêu năm tù?
