Tìm kiếm
Chương III Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024: Các biện pháp xử lý chuyển hướng
| Số hiệu: | 59/2024/QH15 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Quốc hội | Người ký: | Trần Thanh Mẫn |
| Ngày ban hành: | 30/11/2024 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2026 |
| Ngày công báo: | 30/12/2024 | Số công báo: | Từ số 1537 đến số 1538 |
| Lĩnh vực: | Bộ máy hành chính, Thủ tục tố tụng dân sự | Tình trạng: | Chưa có hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Ngày 30/11/2024, Quốc hội thông qua Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, trong đó có quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có quy định áp dụng hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội như sau:
- Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, lối sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có tác dụng phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Trường hợp phải áp dụng hình phạt thì ưu tiên áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.
- Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội nếu thuộc trường hợp sau đây thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm:
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội;
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý.
Ngoài ra theo Điều 13 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 người chưa thành niên phạm tội cần được bảo đảm giữ bí mật cá nhân, cụ thể:
- Bí mật cá nhân của người chưa thành niên phải được tôn trọng, bảo vệ trong suốt quá trình tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, xử lý chuyển hướng, thi hành án và tái hòa nhập cộng đồng.
- Tòa án xét xử kín đối với vụ án hình sự có người chưa thành niên bị xâm hại tình dục hoặc trường hợp đặc biệt khác cần bảo vệ người chưa thành niên.
- Trường hợp người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tham gia tố tụng thì phải bố trí phòng cách ly hoặc các biện pháp bảo vệ khác.
Xem chi tiết nội dung tại Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Xử lý kịp thời và hiệu quả đối với người chưa thành niên.
2. Giúp người chưa thành niên thay đổi nhận thức, nhận biết, sửa chữa sai lầm đã gây ra, tự rèn luyện khắc phục, ngăn ngừa nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội.
3. Đẩy mạnh việc hòa giải giữa người chưa thành niên và bị hại bị ảnh hưởng bởi hành vi phạm tội của người chưa thành niên.
4. Nâng cao trách nhiệm của gia đình và cộng đồng tham gia trực tiếp vào hoạt động xử lý chuyển hướng.
5. Hạn chế tác động tiêu cực của thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên.
6. Ngăn ngừa người chưa thành niên phạm tội mới, tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng.
1. Việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; khả năng giáo dục, phục hồi của người chưa thành niên phạm tội và sự an toàn của bị hại, cộng đồng.
2. Việc lựa chọn biện pháp xử lý chuyển hướng áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải phù hợp với hoàn cảnh, độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của họ.
3. Người chưa thành niên phạm tội có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng. Biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các khoản 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 36 của Luật này phải áp dụng đồng thời với một hoặc nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 36 của Luật này.
Trường hợp người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng khác nhau nhưng cùng phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 23 của Luật này thì thời gian thực hiện nghĩa vụ không vượt quá mức thời hạn cao nhất quy định đối với biện pháp được áp dụng.
4. Không áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đồng thời với các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng.
5. Không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu tại thời điểm xem xét người phạm tội đã đủ 18 tuổi.
1. Khiển trách.
2. Xin lỗi bị hại.
3. Bồi thường thiệt hại.
4. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
5. Quản thúc tại gia đình.
6. Hạn chế khung giờ đi lại.
7. Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới.
8. Cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới.
9. Tham gia chương trình học tập, dạy nghề.
10. Tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý.
11. Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng.
12. Giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Người chưa thành niên phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự thì có thể được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng:
1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 38 của Luật này;
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 38 của Luật này;
3. Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
1. Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 của Luật này:
a) Phạm tội rất nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội giết người, Tội hiếp dâm, Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Tội sản xuất trái phép chất ma túy;
b) Phạm tội rất nghiêm trọng 02 lần trở lên hoặc phạm nhiều tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự;
c) Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2. Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 của Luật này:
a) Phạm tội nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội hiếp dâm, Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Tội mua bán trái phép chất ma túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, Tội chiếm đoạt chất ma túy;
b) Tái phạm, tái phạm nguy hiểm;
c) Phạm tội nghiêm trọng do cố ý 02 lần trở lên hoặc phạm nhiều tội nghiêm trọng do cố ý theo quy định của Bộ luật Hình sự;
d) Phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự.
3. Người chưa thành niên đã được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng mà phạm tội mới.
Người chưa thành niên phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 37 của Luật này có thể được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Có chứng cứ xác định người chưa thành niên đã thực hiện hành vi phạm tội;
2. Người chưa thành niên thừa nhận mình đã thực hiện hành vi phạm tội;
3. Người chưa thành niên đồng ý bằng văn bản về việc xử lý chuyển hướng.
1. Khiển trách là việc phê bình nghiêm khắc đối với người chưa thành niên phạm tội, trong đó giải thích về thiệt hại mà người chưa thành niên đã gây ra và hậu quả nếu tiếp tục vi phạm. Việc khiển trách được thi hành ngay tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, tại phiên tòa hoặc được thi hành tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chưa thành niên phạm tội cư trú.
2. Khiển trách có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự;
b) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
3. Người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng biện pháp khiển trách phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này từ 03 tháng đến 01 năm.
1. Xin lỗi bị hại là việc người chưa thành niên phạm tội nhận lỗi với bị hại và mong muốn được tha thứ về hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Việc xin lỗi bị hại được thi hành ngay tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc tại phiên tòa.
2. Xin lỗi bị hại có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 của Luật này;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 của Luật này;
c) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
3. Xin lỗi bị hại được áp dụng khi có sự đồng thuận của bị hại hoặc người đại diện của họ.
4. Người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng biện pháp xin lỗi bị hại phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này từ 03 tháng đến 01 năm.
1. Bồi thường thiệt hại là việc người chưa thành niên phạm tội hoặc cha, mẹ của họ khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội mà người chưa thành niên gây ra bằng cách đền bù tổn hại về vật chất, tinh thần do xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của bị hại.
2. Bồi thường thiệt hại có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 của Luật này;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 của Luật này;
c) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
3. Bồi thường thiệt hại được áp dụng khi có sự đồng thuận của bị hại hoặc người đại diện của họ. Cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nhưng không quá 01 năm.
4. Người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này từ 03 tháng đến 01 năm.
1. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là việc buộc người chưa thành niên phạm tội phải chịu sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú về việc tuân thủ pháp luật, thực hiện nghĩa vụ công dân, chấp hành nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi học tập, nơi làm việc.
2. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 và phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 của Luật này;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 và phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 của Luật này.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này là từ 06 tháng đến 02 năm.
1. Quản thúc tại gia đình là việc buộc người chưa thành niên phạm tội ở nhà dưới sự giám sát trực tiếp của gia đình và chỉ được rời khỏi nhà trong trường hợp cần thiết với sự cho phép của người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
2. Quản thúc tại gia đình có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 và phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 của Luật này;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý; phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 và phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 của Luật này.
3. Quản thúc tại gia đình được áp dụng khi có đề nghị và cam kết của cha, mẹ, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột hoặc chị ruột là người thành niên ở cùng nhà với người chưa thành niên phạm tội. Người đề nghị phải bảo đảm có nơi cư trú rõ ràng, có điều kiện cơ sở vật chất, có khả năng chăm sóc, giáo dục và trực tiếp giám sát người chưa thành niên phạm tội.
4. Thời hạn áp dụng biện pháp quản thúc tại gia đình và thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này là từ 03 tháng đến 01 năm.
1. Hạn chế khung giờ đi lại là việc giới hạn người chưa thành niên phạm tội ra khỏi nhà vào khung giờ nhất định trong khoảng thời gian từ 18 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, trừ trường hợp cần thiết được người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng cho phép.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp hạn chế khung giờ đi lại là từ 03 tháng đến 06 tháng.
1. Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là việc cấm người chưa thành niên phạm tội giao tiếp, liên lạc, tiếp cận với bị hại, đồng phạm, người có ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi của người chưa thành niên có nguy cơ thúc đẩy người chưa thành niên phạm tội mới.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là từ 06 tháng đến 01 năm.
1. Cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là việc cấm người chưa thành niên phạm tội đến địa điểm đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc địa điểm có môi trường tương tự như nơi đã thực hiện hành vi phạm tội có nguy cơ thúc đẩy người chưa thành niên phạm tội mới.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là từ 06 tháng đến 01 năm.
1. Tham gia chương trình học tập, dạy nghề là việc người chưa thành niên phạm tội phải học tập về pháp luật, đạo đức, nghĩa vụ công dân, kỹ năng ứng xử, kỹ năng sống hoặc học nghề.
2. Cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp được cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn có trách nhiệm đào tạo, giáo dục người chưa thành niên và phối hợp với người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thi hành biện pháp này.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp tham gia chương trình học tập, dạy nghề là không quá 01 năm.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
1. Điều trị hoặc tư vấn tâm lý là việc trị liệu, can thiệp y tế nhằm khắc phục những trở ngại về tinh thần, cảm xúc, tâm trạng, tình trạng sức khỏe là nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của người chưa thành niên.
2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tổ chức khác có chức năng điều trị hoặc tư vấn tâm lý được cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn có trách nhiệm thực hiện các biện pháp nghiệp vụ chuyên môn để trị liệu, can thiệp cho người chưa thành niên và phối hợp với người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thi hành biện pháp này.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý là không quá 01 năm.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
1. Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng là thực hiện công việc trực tiếp phục vụ cho lợi ích của cộng đồng nơi người chưa thành niên phạm tội cư trú, bao gồm:
a) Tham gia trồng, chăm sóc cây xanh ở khu vực công cộng; sửa chữa, làm sạch đường làng, ngõ xóm, đường phố, ngõ phố, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng hoặc công trình công cộng khác;
b) Tham gia công việc khác nhằm cải thiện môi trường sống và cảnh quan của cộng đồng;
c) Tham gia hỗ trợ giúp đỡ người cao tuổi, người khuyết tật, người có hoàn cảnh đặc biệt hoặc các hoạt động tình nguyện khác nhằm tăng cường ý thức, trách nhiệm, sự gắn kết, chia sẻ với cộng đồng.
2. Tổng thời gian thực hiện biện pháp thực hiện công việc phục vụ cộng đồng là từ 20 giờ đến 80 giờ. Việc thực hiện công việc phục vụ cộng đồng không được quá 04 giờ trong 01 ngày, không được quá 05 ngày trong 01 tuần, không được thực hiện vào thời gian từ 20 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.
3. Việc tổ chức thi hành biện pháp thực hiện công việc phục vụ cộng đồng phải bảo đảm an toàn, tránh bị kỳ thị và ảnh hưởng đến việc học tập của người chưa thành niên.
4. Thời hạn áp dụng biện pháp thực hiện công việc phục vụ cộng đồng là không quá 03 tháng.
1. Giáo dục tại trường giáo dưỡng là việc buộc người chưa thành niên phạm tội học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục trong một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ theo quy định của pháp luật.
2. Giáo dục tại trường giáo dưỡng có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội mua bán người, Tội mua bán người dưới 16 tuổi, Tội cướp tài sản, Tội cướp giật tài sản, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, Tội mua bán trái phép chất ma túy, Tội chiếm đoạt chất ma túy, trừ trường hợp người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội cướp giật tài sản, trừ trường hợp người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án;
c) Các trường hợp khác cần phải áp dụng, do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người chưa thành niên phạm tội;
d) Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật này.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là từ 06 tháng đến 02 năm.
DIVERSION MEASURES
Article 34. Purposes of Diversion
1. Promptly and effectively handle juveniles.
2. Assist juveniles in changing their perceptions, recognizing and correcting their mistakes, self-improvement, preventing the causes of criminal behavior, and educating them to become useful citizens for society
3. Promote mediation between juveniles and victims affected by the juveniles’ crime.
4. Enhance the responsibility of families and communities directly participating in diversion.
5. Limit the negative impacts of criminal procedures on juveniles.
6. Prevent juveniles from committing new crimes and enable community reintegration.
Article 35. Application of diversion measures
1. The application of diversion measures must consider the nature and severity of the offense; the educational and rehabilitation possibilities of juvenile delinquents, and the safety of victims and the community.
2. The selection of diversion measures for juvenile delinquents must be appropriate to their circumstances, age, and psychological characteristics.
3. Juvenile delinquents may be subject to one or more community-bases diversion measures. The diversion measures specified in Articles 6, 7, 8, 9, 10, and 11 of this Law must be applied simultaneously with one or multiple diversion measures specified in Articles 1, 2, 3, 4, and 5 of this Law.
In cases where juvenile offenders are subject to multiple community-based diversion measures but must also fulfill the obligations specified in points b, c, d, and dd of Article 23.2 of this Law, the duration of fulfilling these obligations must not exceed the maximum time limit prescribed for the applied measures.
4. Educational measures at reformatory shall not be applied simultaneously with community-based diversion measures.
5. Diversion measures shall not be applied if the offender has reached the age of 18 at the time of consideration.
Article 36. Diversion Measures
1. Reprimand.
2. Apology to the victim.
3. Damages payment
4. Education in the community.
5. House arrest
6. Restriction on movement.
7. Prohibition on contact with individuals at risk of influencing the juvenile to commit new crime.
8. Prohibition from visiting places that may lead the juvenile to commit new crime.
9. Participation in educational or vocational programs.
10. Participation in treatment or psychological counseling.
11. Community service.
12. Education at reformatory.
Article 37. Cases eligible for diversion measures
Juvenile delinquents falling into one of the following cases, if not exempt from criminal liability according to the provisions of the Criminal Code, may be eligible for diversion measures:
1. Individuals from 14 to under 16 years of age who commit a very serious crime as defined by the Criminal Code, except for cases specified in clauses 1 and 3 of Article 38 of this Law.
2. Individuals from 16 to under 18 years of age who involuntarily commit very serious crime, serious crime or less serious crime as defined by the Criminal Code, except for cases specified in clauses 2 and 3 of Article 38 of this Law.
3. Juveniles who are accomplices with insignificant roles in the case.
Article 38. Cases ineligible for diversion measures
1. Juveniles from 14 to under 16 years of age are not eligible for diversion measures if they fall into one of the following cases, except as specified in clause 3 of Article 37 of this Law:
a) Commit a very serious crime such as: Murder, Rape, Rape of a person under 16, Non-consensual intercourse with a person from 13 to under 16 years of age, Illegal manufacturing of narcotic substances;
b) Commit a very serious crime multiple times, or commit multiple very serious crimes as defined by the Criminal Code;
c) Commit an extremely serious crime multiple times as defined by the Criminal Code.
2. Juveniles from 16 to under 18 years of age are not eligible for diversion measures if they fall into one of the following cases, except as specified in clause 3 of Article 37 of this Law:
a) Committing a very serious crime such as: Rape, Illegal manufacturing of narcotic substances, Illegal possession of narcotic substances, Illegal trading of narcotic substances, Illegal trafficking of narcotic substance, Appropriation of narcotic substances;
b) Recidivism and dangerous recidivism
c) Deliberately committing a serious crime multiple times, or commit multiple serious crimes as defined by the Criminal Code;
d) Deliberately committing a very serious crime, or committing an extremely serious crime as defined by the Criminal Code;
3. Juveniles who have been subject to diversion measures but commit new crime are not eligible for diversion measures.
Article 39. Requirements for application of diversion measures
Juvenile delinquents falling under the cases specified in Article 37 of this Law may be eligible for application of diversion measures when they satisfy the following requirements:
1. There is evidence confirming that the juvenile has committed the a crime
2. The juvenile admits to having committed a crime;
3. The juvenile consents in writing to the diversion.
1. Reprimand is a strict criticism towards juvenile delinquents, explaining the harm caused by them and the consequences of further violations. Reprimand shall be executed immediately during the session to consider and decide the application of diversion measures, trials, or shall be executed at the People's Committee of the commune where the juvenile delinquent resides.
2. Reprimand shall apply to the following cases:
Individuals from 16 to under 18 of age who involuntarily commit very serious crime, or commit a less serious crime as defined by the Criminal Code;
b) Juveniles who are accomplices with insignificant roles in the case.
3. Juvenile delinquents subject to reprimand must fulfill the obligations specified in clause 2 of Article 23 of this Law from 3 months to 1 year.
Article 41. Apology to the victim
1. Apology to the victim means juvenile delinquents admitting their mistakes to the victims and wishing to be forgiven for the crime that they have committed. Apology to the victim shall be carried out immediately during the session to consider and decide the application of diversion measures, trials.
2. Apology to the victim shall apply to the following cases:
a) Individuals from 14 to under 16 of age who commit an extremely serious crime as defined by the Criminal Code, except for cases specified in point a of clause 2 of Article 51 of this Law;
b) Individuals from 16 to under 18 of age who commit a less serious crime or serious crime as defined by the Criminal Code, except for cases specified in point b of clause 2 of Article 51 of this Law;
c) Juveniles who are accomplices with insignificant roles in the case.
3. Apology to the victim shall be applied with the consent of the victim or their representative.
4. Juvenile delinquents subject to apology to the victim must fulfill the obligations specified in clause 2 of Article 23 of this Law from 3 months to 1 year.
1. Damage payment means that the juvenile delinquents or their parents shall compensate victims for the physical and mental damages affecting the life, health, dignity, reputation, character, or property that are caused by the crime.
2. Damage payment shall apply to the following cases:
a) Individuals from 14 to under 16 of age who commit an extremely serious crime as defined by the Criminal Code, except for cases specified in point a of clause 2 of Article 51 of this Law;
b) Individuals from 16 to under 18 of age who commit a less serious crime or serious crime as defined by the Criminal Code, except for cases specified in point b of clause 2 of Article 51 of this Law;
c) Juveniles who are accomplices with insignificant roles in the case.
3. Damage payment shall be applied with the consent of the victim or their representative. The competent authority determines the time for fulfilling the obligation to pay damages, not exceeding 01 year.
4. Juvenile delinquents subject to damage payment must fulfill the obligations specified in clause 2 of Article 23 of this Law from 3 months to 1 year.
Article 43. Education in the community
1. Education in the community means that juvenile delinquents shall be put under the management, supervision, and education of the People's Committee of the commune where they reside regarding compliance with the law, performance of civic duties, and compliance with the internal regulations of their place of residence, study or work.
2. Education in the community shall apply to the following cases:
a) Individuals from 14 to under 16 of age who commit an extremely serious crime as defined by the Criminal Code, except for cases specified in clause 3 of Article 37 of this Law and crime specified in point a of Article 51 of this Law;
b) Individuals from 16 to under 18 of age who commit a less serious crime or serious crime as defined by the Criminal Code, except for cases specified in clause 3 of Article 37 of this Law and crime specified in point a of Article 51 of this Law;
3. The duration of applying the educational measure at the community and fulfilling the obligations specified in clause 2 of Article 23 of this Law is from 6 months to 2 years.
1. House arrest means that juvenile delinquents shall stay at home under direct supervision of their family and only be allowed to leave the house when necessary with the permission from the person directly supervising the enforcement of decision on applying diversion measures.
2. House arrest shall be applied in the following cases:
a) Individuals from 14 to under 16 of age who commit an extremely serious crime as defined by the Criminal Code, except for cases specified in clause 3 of Article 37 of this Law and crime specified in point a of Article 51 of this Law;
b) Individuals from 16 to under 18 of age who unintentionally commit a very serious crime or commit serious crime as defined by the Criminal Code, except for cases specified in clause 3 of Article 37 of this Law and crime specified in point a of Article 51 of this Law.
3. House arrest shall be applied upon the request and commitment of the father, mother, grandfather, grandmother, elder brother, or elder sister who are adults living in the same household as the juvenile delinquents. The requester must ensure that he/she has a clear place of residence, has adequate facilities, and is capable of caring for, educating, and directly supervising the juvenile delinquents.
4. The duration of applying the house arrest and fulfilling the obligations specified in clause 2 of Article 23 of this Law is from 03 months to 1 year.
Article 45. Restriction on movement
1. Restriction on movement means limiting juvenile delinquents from leaving their home during specific hours from 6:00 PM of the previous day to 6:00 AM of the following day, except when necessary and permitted by the person directly supervising the enforcement of decision on applying diversion measures.
2. The duration of restriction on movement is from 03 to 06 months.
Article 46. Prohibition on contact with individuals at risk of influencing the juvenile to commit new crime
1. Prohibition on contact with individuals at risk of influencing the juvenile to commit new crime means prohibiting juvenile delinquents from communicating, contacting, or approaching victims, accomplices, or individuals who may have a negative influence on the behavior of the juvenile at risk of prompting them to commit new crime.
2. The duration of applying prohibition on contact with individuals at risk of influencing the juvenile to commit new crime is from 06 months to 01 year.
Article 47. Prohibition from visiting places that may lead the juvenile to commit new crime
1. Prohibition from visiting places that may lead the juvenile to commit new crime means prohibiting juvenile delinquents from visiting places where criminal acts have been committed or places with similar environments to those where the crimes have been committed, which may pose a risk of prompting the juvenile delinquent to commit new crime.
2. The duration of applying prohibition from visiting places that may lead the juvenile to commit new crime is from 06 months to 01 year.
Article 48. Participation in educational or vocational programs
1. Participation in educational or vocational programs means that juvenile delinquents must learn about law, ethics, civic duties, problem-solving skill, life skills, or participate in vocational training.
2. Educational institutions and vocational training institution selected by the presiding authorities shall educate and train juvenile delinquents and cooperate with the person directly supervising the enforcement of decision on applying diversion measures.
3. The duration of applying measures of participation in educational or vocational programs is no more than 01 year
4. The Government shall elaborate this Article.
Article 49. Participation in treatment or psychological counseling
1. Participation in treatment or psychological counseling is the provision of therapy, medical intervention to overcome mental, emotional, mood, health problems that lead to juvenile delinquency.
2. Medical establishments, treatment centers, and other organizations providing treatment and psychological counseling selected by presiding authorities shall implement professional measures to treat and intervene for juveniles and cooperate with the person directly supervising the enforcement of decision on applying diversion measures.
3. The duration of applying measures of participation in treatment or psychological counseling is no more than 01 year
4. The Government shall elaborate this Article.
1. Community service involves directly serving the community where juvenile delinquents reside, including:
a) Participating in planting and caring for greenery in public areas; repairing, cleaning village roads, alleys, streets, community centers, or other public works;
b) Engaging in other activities to improve the living environment and landscape of the community.
Assisting and supporting the elderly, persons with disabilities, individuals in special circumstances, or other voluntary activities to enhance awareness, responsibility, and community connection and sharing.
2. The total duration of community service shall be from 20 to 80 hours. Community service shall not exceed 4 hours per day, 5 days per week, and shall not be conducted between 8:00 PM the previous day and 6:00 AM the following day.
3. Enforcement of community service must ensure safety, avoid discrimination, and not adversely affect the education of the juvenile.
4. The duration of applying community service shall not exceed 3 months.
Article 51. Education at reformatory
1. Education at reformatory means that juvenile delinquents shall be obligated to study culture, participate in vocational training, work, and live under the management and education of an educational organization with strict discipline in accordance with law.
2. Education in the community shall apply to the following cases:
a) Individuals from 14 to under 16 years of age who commit a very serious crime such as: Deliberate infliction of bodily harm upon another person, Human trafficking, Trafficking of a person aged under 16, Illegal possession of narcotic substances, Robbery, Snatching, Illegal trading of narcotic substances, Illegal trafficking of narcotic substance, Appropriation of narcotic substances, except in cases where the juvenile is an accomplice with an insignificant role in the case;
b) Individuals from 16 to under 18 years of age who commit a very serious crime such as: Deliberate infliction of bodily harm upon another person, Robbery, Snatching, except in cases where the juvenile is an accomplice with an insignificant role in the case;
c) Other cases requiring application due to the seriousness of the crime, identity, and living environment of the juvenile delinquent.
d) Other cases specified in clause 3 of Article 82 of the Law.
3. The duration of educational measures at reformatory is from 06 to 02 months.
Cập nhật
Bài viết liên quan
Tội giết người được là loại tội phạm gì theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người được là loại tội phạm gì theo BLHS mới nhất 2025?
Trong Bộ luật Hình sự năm 2025, tội giết người tiếp tục được xác định là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng con người – nhóm quyền cơ bản và tối thượng nhất được pháp luật bảo vệ. Với bản chất là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác, tội danh này không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng về mặt nhân thân mà còn làm mất an ninh trật tự xã hội. Vậy, theo phân loại của pháp luật hình sự hiện hành, tội giết người được xếp vào loại tội phạm nào? Bài viết sau sẽ phân tích căn cứ pháp lý và cơ sở phân loại tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2025 để làm rõ vấn đề này. 16/06/2025Thế nào là lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo BLHS mới nhất 2025?
Thế nào là lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo BLHS mới nhất 2025?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Một trong những yếu tố quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự trong tội danh này là lỗi của người phạm tội, bao gồm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi cố ý gián tiếp xảy ra khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra . Bài viết này sẽ phân tích chi tiết khái niệm lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo quy định mới nhất của Bộ luật Hình sự năm 2025, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về cách áp dụng pháp luật trong thực tiễn. 16/06/2025Tội giết người vượt quá phòng vệ chính đáng mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người vượt quá phòng vệ chính đáng mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, phòng vệ chính đáng là quyền hợp pháp nhằm bảo vệ bản thân hoặc người khác khỏi hành vi xâm hại. Tuy nhiên, khi hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn cần thiết, gây hậu quả nghiêm trọng như tước đoạt tính mạng người khác, người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Hình sự, hành vi giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội có thể bị xử lý với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm; nếu phạm tội đối với 2 người trở lên, mức phạt tù từ 2 năm đến 5 năm . Bài viết này sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật liên quan và mức hình phạt áp dụng trong trường hợp này theo quy định mới nhất năm 2025. 16/06/2025Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mức xử lý hình sự mới nhất 2025 ra sao?
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mức xử lý hình sự mới nhất 2025 ra sao?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt". Vậy, hành vi giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người chưa đạt theo quy định hiện hành. 16/06/2025Tội giết người không thành có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người không thành có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người được xem là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt" hoặc "giết người không thành". Vậy, hành vi giết người không thành có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người không thành theo quy định hiện hành. 16/06/2025Tội giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt". Vậy, hành vi giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người chưa đạt theo quy định hiện hành. 16/06/20254 yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS mới nhất 2025
4 yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS mới nhất 2025
Dưới ánh sáng của Bộ luật Hình sự năm 2025 – phiên bản mới nhất phản ánh sự thay đổi và hoàn thiện của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam – tội giết người tiếp tục được quy định là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống – quyền cơ bản nhất của con người. Để xác định một hành vi có cấu thành tội giết người hay không, cần phải phân tích đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Bài viết này sẽ trình bày bốn yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS 2025, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về căn cứ pháp lý và cách áp dụng trong thực tiễn tố tụng hình sự. 16/06/2025Tội giết người Khoản 2 mức phạt cao nhất 15 năm tù theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người Khoản 2 mức phạt cao nhất 15 năm tù theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, vẫn đang được áp dụng tính đến năm 2025. Theo đó, Khoản 2 của điều luật này quy định mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm đối với các hành vi giết người không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1, tức là không có các tình tiết tăng nặng như giết nhiều người, giết người dưới 16 tuổi, giết phụ nữ có thai, giết người đang thi hành công vụ, hoặc vì động cơ đê hèn. Việc áp dụng hình phạt cụ thể trong khung hình phạt này phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành về tội giết người theo Khoản 2 Điều 123, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt trong thực tiễn xét xử. 16/06/2025Tội giết người Khoản 1 mức phạt cao nhất tử hình theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người Khoản 1 mức phạt cao nhất tử hình theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và vẫn đang được áp dụng tính đến năm 2025. Theo đó, Khoản 1 của điều luật này quy định mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với các hành vi giết người có tính chất đặc biệt nghiêm trọng như. giết từ hai người trở lên, giết người dưới 16 tuổi, giết phụ nữ mà biết là có thai, giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân, giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình, hoặc vì động cơ đê hèn. Việc áp dụng hình phạt cụ thể trong khung hình phạt này phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành về tội giết người theo Khoản 1 Điều 123, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt trong thực tiễn xét xử. 16/06/2025Tội giết người xử lý hình sự ra sao theo BLHS mới nhất 2025?
