Tìm kiếm
Chương VIII Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024: Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng
| Số hiệu: | 59/2024/QH15 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Quốc hội | Người ký: | Trần Thanh Mẫn |
| Ngày ban hành: | 30/11/2024 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2026 |
| Ngày công báo: | 30/12/2024 | Số công báo: | Từ số 1537 đến số 1538 |
| Lĩnh vực: | Bộ máy hành chính, Thủ tục tố tụng dân sự | Tình trạng: | Chưa có hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Ngày 30/11/2024, Quốc hội thông qua Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, trong đó có quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có quy định áp dụng hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội như sau:
- Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, lối sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có tác dụng phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Trường hợp phải áp dụng hình phạt thì ưu tiên áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.
- Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội nếu thuộc trường hợp sau đây thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm:
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội;
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý.
Ngoài ra theo Điều 13 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 người chưa thành niên phạm tội cần được bảo đảm giữ bí mật cá nhân, cụ thể:
- Bí mật cá nhân của người chưa thành niên phải được tôn trọng, bảo vệ trong suốt quá trình tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, xử lý chuyển hướng, thi hành án và tái hòa nhập cộng đồng.
- Tòa án xét xử kín đối với vụ án hình sự có người chưa thành niên bị xâm hại tình dục hoặc trường hợp đặc biệt khác cần bảo vệ người chưa thành niên.
- Trường hợp người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tham gia tố tụng thì phải bố trí phòng cách ly hoặc các biện pháp bảo vệ khác.
Xem chi tiết nội dung tại Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Việc tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng phải được tiến hành trong môi trường thuận lợi cho việc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, bí mật cá nhân, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ. Hạn chế đến mức thấp nhất số lần tiếp xúc giữa người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị buộc tội.
2. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm giảm thiểu sự lo lắng, căng thẳng của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng khi tham gia tố tụng.
3. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với người làm công tác xã hội, cơ quan bảo vệ trẻ em và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan nhằm hỗ trợ, chăm sóc, bảo vệ người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng trong quá trình tố tụng.
4. Ưu tiên giải quyết các vụ việc, vụ án có người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng trong thời gian sớm nhất.
5. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp phù hợp, cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng và người thân thích của họ khi bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại.
6. Người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng không bị dẫn giải.
7. Người chưa thành niên là bị hại có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ từ nguồn kinh phí của Quỹ Bảo trợ trẻ em.
1. Người chưa thành niên là bị hại có quyền có người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người chưa thành niên là người làm chứng có quyền có người đại diện cùng tham gia các hoạt động tố tụng. Trường hợp sự tham gia của người đại diện không bảo đảm lợi ích của người chưa thành niên thì phải chỉ định người đại diện khác cho họ theo quy định của pháp luật.
2. Ngay sau khi thụ lý vụ việc, vụ án, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo bằng văn bản cho người đại diện của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng để tham gia tố tụng; trường hợp cần thiết có thể thông báo trực tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay sau đó phải gửi thông báo bằng văn bản. Người đại diện phải có mặt đúng thời gian, địa điểm nêu trong thông báo.
3. Trước khi tiến hành hoạt động tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo cho người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên là bị hại, người đại diện của người làm chứng theo quy định của Luật này và Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Theo đề nghị của người chưa thành niên là bị hại, người đại diện của họ hoặc khi xét thấy cần thiết, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đề nghị người làm công tác xã hội tham gia tố tụng để hướng dẫn, hỗ trợ cho người chưa thành niên và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác của người làm công tác xã hội theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể yêu cầu chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học hỗ trợ người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng khi tham gia tố tụng.
1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng.
2. Nghiêm cấm tiết lộ thông tin về họ và tên, nơi cư trú, học tập, làm việc, hình ảnh, thông tin nhận dạng khác của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng.
Khi tuyên án, Thẩm phán không được nêu họ và tên, nơi cư trú, học tập, làm việc của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng.
3. Tòa án xét xử kín đối với vụ án hình sự có người chưa thành niên bị xâm hại tình dục hoặc trường hợp đặc biệt khác cần bảo vệ người chưa thành niên.
4. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kịp thời đề nghị các cơ quan báo chí, thông tấn không đăng tải, gỡ các thông tin, hình ảnh liên quan đến vụ việc, vụ án ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng.
5. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp nghiệp vụ hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp kỹ thuật để bảo vệ thông tin cá nhân, danh dự, nhân phẩm của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng bị phát tán trên không gian mạng.
6. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan xử lý theo thẩm quyền đối với người cố tình phát tán, truyền đưa thông tin cá nhân của người chưa thành niên là bị hại trong các vụ việc, vụ án xâm hại người chưa thành niên, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của họ.
1. Việc lấy lời khai người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng có thể thực hiện tại nơi tiến hành điều tra, truy tố, nơi cư trú hoặc nơi học tập, nơi làm việc, nơi sinh hoạt của người đó hoặc cơ sở chăm sóc người chưa thành niên. Ưu tiên địa điểm lấy lời khai tại nơi cư trú của họ. Trường hợp lấy lời khai của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tại nơi tiến hành điều tra, truy tố thì phải sắp xếp, bố trí phòng lấy lời khai bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của họ.
Trường hợp cần thiết, việc lấy lời khai của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng có thể được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
2. Khi tiến hành lấy lời khai người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có thái độ thân thiện, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành, đặc điểm riêng về hoàn cảnh gia đình, tình trạng tâm lý, sức khỏe và những đặc điểm khác của người chưa thành niên.
3. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải hạn chế tối đa số lần lấy lời khai của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng và chỉ lấy lời khai khi thực sự cần thiết để phục vụ hoạt động tố tụng.
4. Không hỏi người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng nhiều lần về cùng một nội dung. Việc lấy lời khai không quá 02 lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp vụ việc, vụ án có nhiều tình tiết phức tạp. Việc lấy lời khai phải tạm dừng ngay khi người chưa thành niên có biểu hiện mệt mỏi, ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ.
5. Khi tiến hành lấy lời khai, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể sử dụng sơ đồ, mô hình, thiết bị điện tử hoặc công cụ khác để hỗ trợ việc lấy lời khai người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng.
6. Không tiến hành đối chất giữa người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng với người bị buộc tội, trừ trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án.
Khi tiến hành đối chất, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bố trí cho người tham gia đối chất ngồi ở phòng cách ly và sử dụng thiết bị điện tử, màn che hoặc các biện pháp bảo vệ khác để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của người chưa thành niên.
Việc đối chất đối với người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng chỉ được tiến hành 01 lần trong một ngày và không quá 02 giờ. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tạm dừng ngay việc đối chất khi bị hại, người làm chứng có biểu hiện mệt mỏi, căng thẳng.
7. Người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng có quyền từ chối tham gia vào hoạt động thực nghiệm điều tra, nếu hoạt động đó có thể làm tổn thương tâm lý, tinh thần của họ.
8. Việc lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra phải có mặt của người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
9. Khi lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên mặc trang phục phù hợp, không mặc trang phục Công an nhân dân, Kiểm sát nhân dân.
1. Việc xem xét dấu vết trên thân thể của người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng phải có sự tham gia của người đại diện của họ.
Trường hợp cần thiết có thể mời bác sỹ tham gia việc xem xét dấu vết trên thân thể của người chưa thành niên là bị hại. Việc khám bộ phận sinh dục của người chưa thành niên là bị hại phải do bác sỹ thực hiện.
2. Bảo đảm thời gian xem xét dấu vết trên thân thể người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng được tiến hành nhanh nhất.
3. Chỉ được trưng cầu giám định hoặc lấy mẫu trên cơ thể đối với người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng nếu có căn cứ cho rằng việc đó là cần thiết để giải quyết vụ việc, vụ án. Khi tiến hành việc giám định và lấy mẫu trên cơ thể phải tôn trọng quyền riêng tư của người chưa thành niên.
4. Đối với những vụ việc, vụ án phạm tội quả tang hoặc diễn ra vừa kết thúc thì bị phát hiện hoặc có căn cứ, tài liệu xác định có hành vi xâm hại người chưa thành niên hoặc thuộc các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, cơ quan đang thụ lý vụ việc, vụ án phải tiến hành trưng cầu giám định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi có căn cứ. Trường hợp cần phải đưa bị hại đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để sơ cứu, cấp cứu, cơ quan đang thụ lý vụ việc, vụ án phải phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để thu mẫu giám định.
1. Hội đồng xét xử phải hạn chế việc tiếp xúc giữa người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng với bị cáo khi họ trình bày lời khai tại phiên tòa.
2. Trong quá trình xét xử vụ án, Hội đồng xét xử phải cách ly người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng với bị cáo trong trường hợp sau đây:
a) Vụ án có người chưa thành niên là bị hại bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán;
b) Vụ án có bị hại là người dưới 10 tuổi;
c) Vụ án khác có yêu cầu của người chưa thành niên hoặc người đại diện của họ và Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly để bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên.
1. Hạn chế việc triệu tập người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tham gia phiên tòa nếu không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sử dụng lời khai của họ trong hồ sơ vụ án hoặc áp dụng các biện pháp thay thế khác để xét xử vụ án.
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể quyết định xét xử trực tuyến theo quy định của pháp luật để người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần.
2. Trường hợp người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tham gia phiên tòa thì bố trí cho họ ngồi ở phòng cách ly và sử dụng các thiết bị điện tử; trường hợp không bố trí được phòng cách ly thì để họ ngồi ở phòng xử án nhưng phải bố trí khu vực ngăn cách với bị cáo.
3. Khi xét xử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Khi xét hỏi, câu hỏi cần ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, dùng ngôn ngữ phù hợp với lứa tuổi, giới tính, khả năng nhận thức và mức độ trưởng thành của người chưa thành niên, không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc. Việc xét hỏi cần chú ý đặc điểm riêng về hoàn cảnh gia đình, tình trạng tâm lý, sức khỏe và những đặc điểm khác của họ;
b) Trường hợp cần thiết, có thể sử dụng sơ đồ, mô hình cơ thể, thiết bị điện tử hoặc công cụ khác để hỗ trợ người chưa thành niên trả lời câu hỏi. Không được yêu cầu người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng chỉ vào bộ phận trên cơ thể của họ;
c) Không hỏi những câu mang tính công kích, đe dọa, làm xấu hổ hoặc xúc phạm người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng.
4. Người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng được tạo điều kiện để làm quen, tiếp xúc với quy trình và thủ tục xét xử.
5. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
1. Việc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
2. Việc bồi thường cho người chưa thành niên là bị hại phải thực hiện nhanh chóng, kịp thời.
3. Trường hợp người chưa thành niên là bị hại bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe cần phải cứu chữa kịp thời nhưng người bồi thường chưa thể thực hiện bồi thường ngay thì có thể sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo Trợ trẻ em cho họ. Người có nghĩa vụ bồi thường phải thực hiện hoàn trả Quỹ theo quy định.
4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này.
1. Bị hại là người dưới 16 tuổi có quyền được hỗ trợ và can thiệp theo quy định của Luật Trẻ em.
2. Bị hại là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền được bố trí nơi tạm trú an toàn, được tư vấn tâm lý, điều trị y tế, trợ giúp pháp lý, đào tạo kỹ năng, chăm sóc thay thế và hoạt động hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật.
LEGAL PROCEEDINGS IN RESPECT TO JUVENILES WHO ARE CRIME VICTIMS, WITNESS TESTIFIERS
Article 153. Provision of protection, assistance to juveniles who are crime victims, witness testifiers
1. The legal proceedings involving juveniles who are crime victims, witness testifiers must be conducted in an environment conducive to ensuring their safety in terms of life, health, dignity, honor, property, personal secrets, rights, and other lawful interests. Limiting the number of interactions between juveniles who are crime victims, witness testifiers, and persons facing denunciation or requisitions for charges, persons facing charges to the lowest possible extent.
2. Competent procedural agencies, persons must apply appropriate measures to minimize the anxiety and stress of the juveniles who are crime victims, witness testifiers during their participation in the proceedings.
3. Competent procedural agencies, persons must cooperate with social workers, child protection agencies, and other relevant organizations to support, care for, and protect juveniles who are crime victims, witness testifiers during their participation in the proceedings.
4. Cases involving juveniles who are crime victims or witness testifiers shall be prioritized and handled as soon as possible.
5. Competent procedural agencies, persons must apply appropriate, necessary measures in accordance with the law to protect the life, health, dignity, honor, property, and other lawful rights and interests of juveniles who are crime victims or witness testifiers and their kin when they are harmed or threatened.
6. Juveniles who are crime victims or witness testifiers shall not be escorted by force.
7. Juveniles who are crime victims facing difficult circumstances shall receive support from the Child Protection Fund.
Article 154. Representatives and supporters' participation in legal proceedings
1. Juveniles who are crime victims have the right to have a legal representative, a person protecting their lawful rights and interests, and juveniles who are witness testifiers have the right to have a legal representative to participate in legal proceedings. If the participation of the legal representative does not ensure the juvenile's interests, another legal representative must be appointed in accordance with the law.
2. Immediately after admitting a case, the competent procedural agency must notify in writing the legal representative of the juvenile who is a crime victim, the witness testifier to participate in the proceedings; if necessary, and the notification can be made directly, via phone, or other electronic means, but must be followed up with a written notification. The legal representative must be present at the time and location specified in the notification.
3. Before conducting any legal proceedings, the competent authority must inform the legal representative, the person protecting lawful rights and interests of the juvenile who is a crime victim, the legal representative of the witness testifier as stipulated in this Law and the Criminal Procedure Code.
4. At the request of the juvenile who is a crime victim, their legal representative, or when deemed necessary, the competent procedural agency may request the involvement of a social worker to guide, support the juvenile and perform other duties, powers of the social worker as prescribed by law.
5. If deemed necessary, the competent procedural agency may request medical, psychological, educational, and social work experts to assist the juvenile who is a crime victim, witness testifier during the legal proceedings.
Article 155. Maintaining confidentiality of information of juveniles who are crime victims or witness testifiers
1. Competent procedural agencies, persons must apply appropriate measures to maintain confidentiality of personal privacy of juveniles who are crime victims or witness testifiers.
2. It is strictly prohibited to disclose information about the full name, place of residence, education, work, images, and other identification-related information of juveniles who are crime victims or witness testifiers.
During pronouncing judgments, the Judge is not allowed to mention the full name, place of residence, education, or work of the juvenile who is a crime victim or witness testifier.
3. The court shall handle cases involving gender-based violence of juveniles or other special cases requiring juvenile protection in a secret trial.
4. Competent procedural agencies, persons must promptly request press agencies and news agencies not to publish or to remove information and images related to the case that affect the honor and dignity of juveniles who are crime victims or witness testifiers.
5. Competent procedural agencies, persons shall apply professional measures or request the competent authority to apply technical measures to protect the personal information, honor and dignity of juveniles who are crime victims or witness testifiers that are disseminated on the internet.
6. Competent procedural agencies, persons must handle, within their jurisdiction, or propose to relevant agencies or organizations to handle, any intentional dissemination of personal information of juveniles who are crime victims in cases of child abuse that affects their dignity and honor.
Article 156. Statement extraction, confrontation, identification, voice recognition, experimental investigations
1. Extraction of statements from juveniles who are crime victims and witness testifiers can be done at the place of investigation, prosecution, their place of residence or place of study, workplace, or living place, or at the facility for taking care of juveniles. Priority should be given to extracting statements at their place of residence. When extracting the testimony of juveniles who are crime victims or witness testifiers at the place of investigation or prosecution, a designated room must be arranged to ensure a friendly environment suitable for their psychology and age.
If deemed necessary, the testimony of juveniles who are crime victims or witness testifiers may be audio or video recorded.
2. During the extraction of the testimony of juveniles who are crime victims or witness testifiers, the competent procedural person must maintain a friendly attitude and use language that is easy to understand, appropriate for their age, gender, cognitive abilities, maturity level, and the specific circumstances of the family, psychological state, health, and other characteristics of the juveniles.
3. Competent procedural agencies, persons must limit the number of times of extraction of testimony from juveniles who are crime victims or witness testifiers and should only do so if deemed necessary.
4. Juveniles who are victims or witnesses should not be repeatedly questioned on the same matter. Testimony should not be taken more than twice in one day, each session not exceeding two hours, except in cases with complex circumstances. Extraction of testimony should be paused immediately if the juvenile shows signs of fatigue that may affect their ability to provide accurate and complete information.
5. During the extraction of testimony, the competent procedural person may use diagrams, models, electronic devices, or other tools to assist the extraction of testimony from juveniles who are crime victims or witness testifiers.
6. Confrontation between juveniles who are crime victims or witness testifiers and the accused persons should not be conducted unless deemed necessary for case resolution.
During the confrontation, the competent procedural person shall arrange separate rooms for the participants and use electronic devices, screens, or other protective measures to avoid affecting the psychology of the juveniles.
Confrontation with juveniles who are crime victims or witness testifiers should only be conducted once a day and not exceed two hours per session. Competent procedural persons must immediately halt the confrontation if juveniles show signs of fatigue or stress.
7. Juveniles who are crime victims or witness testifiers have the right to refuse to participate in experimental investigations if such investigations may harm their psychological well-being.
8. During testimony, confrontation, identification, voice recognition, or experimental investigations, the juvenile’s legal representative or person protecting their lawful rights and interests must be present.
9. During testimony, confrontation, identification, voice recognition, or experimental investigations, Investigators, Investigation Officers, Prosecutors, and Inspectors should dress appropriately, not in the uniform of the People’s Police or Prosecution.
Article 157. Inspection of traces across a body, request for expert examinations
1. Inspection of traces across a body of a juvenile who is a crime victim, witness testifier must involve their legal representative.
If deemed necessary, a doctor may be invited to participate in the inspection of traces across the body of a juvenile who is a crime victim. The examination of the genital of a juvenile who is the victim must be performed by a doctor.
2. The inspection of traces on the body of a juvenile who is the victim or witness must be carried out as quickly as possible.
3. Only request an expert examination or take samples from the body of a minor who is the victim or witness if there are grounds to believe that it is necessary to resolve the case. When conducting an expert examination and taking samples from the body, the privacy of the juvenile must be respected.
4. The agency handling the case must perform an examination within 24 hours of discovering grounds in cases of crimes in flagrante, crimes that have just ended but are discovered, or cases that require expert examination or have grounds or documents proving an act of harming juveniles. If it is necessary to take the victim to a medical establishment for first aid or emergency care, the agency handling the case must cooperate with the medical establishment to collect samples for expert examination.
Article 158. Limiting contact with the defendant
1. The Trial Panel must limit contact between the juvenile who is the victims and witnesses and the defendant when they present their testimony at the trial.
2. During the trial, the Trial Panel must isolate the juvenile who is the crime victim and witness testifier from the defendant in the following cases:
a) Cases involving juveniles who are victims of gender-based violence, violence, or trafficking;
b) Cases involving victims under 10 years of age;
c) Other cases where the juvenile or their representative requests isolation and the Trial Panel deems it necessary to isolate them to ensure the best interests of the juvenile.
Article 159. Adjudication procedure
1. Limiting the summoning of juveniles who are crime victims or witness testifiers to participate in court if it does not affect the resolution of the case. The judge presiding over the trial shall use the juvenile’s testimony in the case file or apply other alternative measures to adjudicate the case.
The judge presiding over the trial may decide to conduct an online trial in accordance with law so that juveniles who are crime victims or witness testifiers can participate in the trial at the multi-party hearing venue.
2. When juveniles who are victims or witnesses participate in the trial, they shall be put in an isolated room and allowed to use electronic devices; if an isolated room cannot be arranged, they shall be allowed to sit in the courtroom but must be separated from the defendant.
3. During the trial, the following requirements must be satisfied:
a) When questioning, questions must be brief, simple, and easy to understand, using language appropriate to the juvenile's age, gender, cognitive ability, and maturity level. Multiple matters shall not be asked at the same time. The questioning must pay attention to the specific characteristics of juveniles' family circumstances, psychological status, health and other characteristics;
b) If necessary, body diagrams, models, electronic devices or other tools can be used to assist the juvenile in answering questions. Juveniles who are crime victims and witness testifiers must not be asked to point to their body parts;
c) Questions that are offensive, threatening, embarrassing or insulting to juveniles who are crime victims and witness testifiers are prohibited.
4. Juveniles who are crime victims or witness testifiers are provide with conditions to be familiar with and interact with the adjudication process and procedures.
5. The Chief Justice of the Supreme People's Court shall elaborate this Article.
Article 160. Compensation for juveniles who are crime victims
1. Determination of damage and payment of damage shall be carried out in accordance with civil laws.
2. Compensation for juveniles who are crime victims must be made promptly.
3. If life, health of the juvenile who is the crime victim is harmed and requires timely treatment but the person compensating cannot make compensation immediately, funds from the Children Protection Fund may be used. The person with the obligation to compensate must repay the Fund in accordance with applicable regulations.
4. The Government shall detail Clause 3 of this Article.
Article 161. Support for functional rehabilitation for juvenile who are victims
1. Crime victims who are under 16 years of age shall receive support and intervention in accordance with the Law on Children.
2. Victims from 16 to under 18 years of age have the right to be arranged a safe temporary residence, receive psychological counseling, medical treatment, legal aid, skills training, alternative care and other support activities as prescribed by law.
Cập nhật
Bài viết liên quan
Tội giết người được là loại tội phạm gì theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người được là loại tội phạm gì theo BLHS mới nhất 2025?
Trong Bộ luật Hình sự năm 2025, tội giết người tiếp tục được xác định là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng con người – nhóm quyền cơ bản và tối thượng nhất được pháp luật bảo vệ. Với bản chất là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác, tội danh này không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng về mặt nhân thân mà còn làm mất an ninh trật tự xã hội. Vậy, theo phân loại của pháp luật hình sự hiện hành, tội giết người được xếp vào loại tội phạm nào? Bài viết sau sẽ phân tích căn cứ pháp lý và cơ sở phân loại tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2025 để làm rõ vấn đề này. 16/06/2025Thế nào là lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo BLHS mới nhất 2025?
Thế nào là lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo BLHS mới nhất 2025?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Một trong những yếu tố quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự trong tội danh này là lỗi của người phạm tội, bao gồm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi cố ý gián tiếp xảy ra khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra . Bài viết này sẽ phân tích chi tiết khái niệm lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo quy định mới nhất của Bộ luật Hình sự năm 2025, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về cách áp dụng pháp luật trong thực tiễn. 16/06/2025Tội giết người vượt quá phòng vệ chính đáng mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người vượt quá phòng vệ chính đáng mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, phòng vệ chính đáng là quyền hợp pháp nhằm bảo vệ bản thân hoặc người khác khỏi hành vi xâm hại. Tuy nhiên, khi hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn cần thiết, gây hậu quả nghiêm trọng như tước đoạt tính mạng người khác, người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Hình sự, hành vi giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội có thể bị xử lý với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm; nếu phạm tội đối với 2 người trở lên, mức phạt tù từ 2 năm đến 5 năm . Bài viết này sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật liên quan và mức hình phạt áp dụng trong trường hợp này theo quy định mới nhất năm 2025. 16/06/2025Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mức xử lý hình sự mới nhất 2025 ra sao?
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mức xử lý hình sự mới nhất 2025 ra sao?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt". Vậy, hành vi giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người chưa đạt theo quy định hiện hành. 16/06/2025Tội giết người không thành có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người không thành có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người được xem là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt" hoặc "giết người không thành". Vậy, hành vi giết người không thành có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người không thành theo quy định hiện hành. 16/06/2025Tội giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt". Vậy, hành vi giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người chưa đạt theo quy định hiện hành. 16/06/20254 yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS mới nhất 2025
4 yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS mới nhất 2025
Dưới ánh sáng của Bộ luật Hình sự năm 2025 – phiên bản mới nhất phản ánh sự thay đổi và hoàn thiện của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam – tội giết người tiếp tục được quy định là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống – quyền cơ bản nhất của con người. Để xác định một hành vi có cấu thành tội giết người hay không, cần phải phân tích đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Bài viết này sẽ trình bày bốn yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS 2025, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về căn cứ pháp lý và cách áp dụng trong thực tiễn tố tụng hình sự. 16/06/2025Tội giết người Khoản 2 mức phạt cao nhất 15 năm tù theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người Khoản 2 mức phạt cao nhất 15 năm tù theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, vẫn đang được áp dụng tính đến năm 2025. Theo đó, Khoản 2 của điều luật này quy định mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm đối với các hành vi giết người không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1, tức là không có các tình tiết tăng nặng như giết nhiều người, giết người dưới 16 tuổi, giết phụ nữ có thai, giết người đang thi hành công vụ, hoặc vì động cơ đê hèn. Việc áp dụng hình phạt cụ thể trong khung hình phạt này phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành về tội giết người theo Khoản 2 Điều 123, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt trong thực tiễn xét xử. 16/06/2025Tội giết người Khoản 1 mức phạt cao nhất tử hình theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người Khoản 1 mức phạt cao nhất tử hình theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và vẫn đang được áp dụng tính đến năm 2025. Theo đó, Khoản 1 của điều luật này quy định mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với các hành vi giết người có tính chất đặc biệt nghiêm trọng như. giết từ hai người trở lên, giết người dưới 16 tuổi, giết phụ nữ mà biết là có thai, giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân, giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình, hoặc vì động cơ đê hèn. Việc áp dụng hình phạt cụ thể trong khung hình phạt này phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành về tội giết người theo Khoản 1 Điều 123, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt trong thực tiễn xét xử. 16/06/2025Tội giết người xử lý hình sự ra sao theo BLHS mới nhất 2025?
