Tìm kiếm
Chương VII Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024: Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội
| Số hiệu: | 59/2024/QH15 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Quốc hội | Người ký: | Trần Thanh Mẫn |
| Ngày ban hành: | 30/11/2024 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2026 |
| Ngày công báo: | 30/12/2024 | Số công báo: | Từ số 1537 đến số 1538 |
| Lĩnh vực: | Bộ máy hành chính, Thủ tục tố tụng dân sự | Tình trạng: | Chưa có hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Ngày 30/11/2024, Quốc hội thông qua Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, trong đó có quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có quy định áp dụng hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội như sau:
- Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, lối sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có tác dụng phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Trường hợp phải áp dụng hình phạt thì ưu tiên áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.
- Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội nếu thuộc trường hợp sau đây thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm:
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội;
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý.
Ngoài ra theo Điều 13 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 người chưa thành niên phạm tội cần được bảo đảm giữ bí mật cá nhân, cụ thể:
- Bí mật cá nhân của người chưa thành niên phải được tôn trọng, bảo vệ trong suốt quá trình tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, xử lý chuyển hướng, thi hành án và tái hòa nhập cộng đồng.
- Tòa án xét xử kín đối với vụ án hình sự có người chưa thành niên bị xâm hại tình dục hoặc trường hợp đặc biệt khác cần bảo vệ người chưa thành niên.
- Trường hợp người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tham gia tố tụng thì phải bố trí phòng cách ly hoặc các biện pháp bảo vệ khác.
Xem chi tiết nội dung tại Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên.
2. Điều kiện sinh sống và giáo dục.
3. Có hay không có người thành niên xúi giục.
4. Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội.
1. Thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đối với vụ án có người chưa thành niên là người bị buộc tội không quá một phần hai thời hạn tương ứng được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp vụ án có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát, Tòa án ra thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng thì được áp dụng quy định tương ứng về thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.
1. Người chưa thành niên là người bị buộc tội có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
2. Người đại diện của người chưa thành niên là người bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người chưa thành niên là người bị buộc tội.
3. Trường hợp người chưa thành niên là người bị buộc tội không đồng ý người bào chữa do người đại diện lựa chọn thì phải lựa chọn theo ý kiến của người chưa thành niên là người bị buộc tội.
4. Trường hợp người chưa thành niên là người bị buộc tội không nhờ người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp người chưa thành niên từ chối người bào chữa theo chỉ định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn chỉ định người bào chữa cho họ.
1. Trước khi tiến hành hoạt động tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước trong thời gian hợp lý cho người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội biết về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Luật này và Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Việc thông báo phải bằng văn bản, trong đó phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, điện thoại của người ra thông báo và người được thông báo. Trường hợp cần bảo đảm sự có mặt kịp thời của người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể thông báo trực tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay sau đó phải gửi thông báo bằng văn bản.
3. Người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội khi nhận được thông báo phải thông tin kịp thời về việc có mặt và tham gia tố tụng của họ cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng biết.
4. Việc thông báo các hoạt động tố tụng khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Người đại diện của người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
2. Những trường hợp sau đây không được làm người đại diện của người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội:
a) Việc tham gia tố tụng của người này gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý của người chưa thành niên, ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án;
b) Hành vi của người này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên.
3. Người đại diện của người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội được tham gia việc lấy lời khai, hỏi cung, đối chất, khám xét người, xem xét dấu vết trên thân thể của người chưa thành niên, tham gia việc người chưa thành niên nhận dạng, nhận biết giọng nói và những hoạt động tố tụng khác theo quy định của Luật này và Bộ luật Tố tụng hình sự; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu liên quan đến việc buộc tội người chưa thành niên trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra.
4. Người đại diện của người chưa thành niên là bị cáo khi tham gia phiên tòa có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; phát biểu ý kiến, tranh luận; khiếu nại các hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các quyết định của Tòa án.
5. Ngay sau khi thụ lý vụ việc, vụ án, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo bằng văn bản cho người đại diện của người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội để tham gia tố tụng; trường hợp cần thiết có thể báo tin trực tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay sau đó phải gửi thông báo bằng văn bản.
6. Người đại diện phải có mặt đúng thời gian, địa điểm nêu trong thông báo.
1. Đại diện cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức khác nơi người chưa thành niên học tập, lao động và sinh hoạt có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này khi tham gia phiên tòa có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; phát biểu ý kiến, tranh luận.
1. Các thông tin có liên quan đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên không được công khai, trừ trường hợp người đó bị truy nã theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
2. Các tài liệu, chứng cứ, thông tin có liên quan đến nhân thân, hành vi phạm tội của người chưa thành niên chỉ được sử dụng cho việc giải quyết vụ việc, vụ án, nghiêm cấm sử dụng vào mục đích khác.
3. Trong trường hợp đặc biệt cần bảo vệ người chưa thành niên, Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên công khai phần quyết định của bản án.
1. Các biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm:
a) Giữ người trong trường hợp khẩn cấp;
b) Bắt người theo các trường hợp quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự;
c) Tạm giữ;
d) Tạm giam;
đ) Giám sát điện tử;
e) Giám sát bởi người đại diện;
g) Bảo lĩnh;
h) Đặt tiền để bảo đảm;
i) Cấm đi khỏi nơi cư trú;
k) Tạm hoãn xuất cảnh.
2. Các biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm:
a) Áp giải, dẫn giải;
b) Kê biên tài sản;
c) Phong tỏa tài khoản.
3. Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo ngay bằng văn bản cho gia đình của họ, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; trường hợp cần thiết có thể báo tin trực tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay sau đó phải gửi thông báo bằng văn bản.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt là người chưa thành niên, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; trường hợp người bị giữ, bị bắt là công dân nước ngoài thì phải thông báo cho cơ quan ngoại giao của Việt Nam để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước có công dân bị giữ, bị bắt.
Nếu việc thông báo cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản trở điều tra thì sau khi cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay.
1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp về tội phạm mà họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự nếu thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giữ về tội phạm mà họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự nếu thuộc trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giữ về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu thuộc trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giữ về tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
3. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ một lần nhưng không quá 03 ngày.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
1. Tạm giam có thể áp dụng đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
b) Không có nơi cư trú rõ ràng;
c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
d) Tiếp tục phạm tội hoặc có căn cứ xác định người này tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để tiếp tục phạm tội;
đ) Có hành vi tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
2. Tạm giam có thể áp dụng đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
b) Không có nơi cư trú rõ ràng;
c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
d) Tiếp tục phạm tội;
đ) Có hành vi tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
3. Tạm giam có thể áp dụng đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
b) Không có nơi cư trú rõ ràng;
c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có căn cứ xác định người này sẽ bỏ trốn;
d) Tiếp tục phạm tội hoặc có căn cứ xác định người này tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để tiếp tục phạm tội;
đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
4. Có thể áp dụng biện pháp tạm giam đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi về tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
5. Thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo không quá một phần hai thời hạn tạm giam tương ứng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 151 của Luật này. Khi không còn căn cứ để tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kịp thời hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.
6. Trường hợp người chưa thành niên là bị can, bị cáo đang bị tạm giam mà có thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng thì cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tiếp tục tạm giam hoặc hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.
7. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết khoản 5 Điều này.
1. Giám sát điện tử là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của người chưa thành niên là bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được giám sát điện tử.
2. Bị can, bị cáo được giám sát điện tử phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Không đi khỏi phạm vi giám sát, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này;
b) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
c) Không bỏ trốn hoặc không tiếp tục phạm tội;
d) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này;
đ) Không tháo, phá hủy thiết bị giám sát điện tử hoặc gây rối loạn hoạt động của thiết bị giám sát điện tử.
3. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định giám sát điện tử đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo và phải ghi rõ phạm vi giám sát. Quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
4. Thời hạn giám sát điện tử không quá thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy định của Luật này. Thời hạn giám sát điện tử đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
5. Người ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải gửi ngay quyết định này cho người chưa thành niên là bị can, bị cáo, người đại diện của họ; thông báo ngay việc áp dụng biện pháp này cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chưa thành niên là bị can, bị cáo cư trú và giao người chưa thành niên là bị can, bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã đó để thi hành.
Trường hợp người chưa thành niên là bị can, bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi phạm vi giám sát thì phải có sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và phải có giấy phép của người đã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Giấy phép này phải gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
6. Bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản 2 Điều này thì bị tạm giam. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị can, bị cáo cư trú phải báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử biết về việc vi phạm để xử lý theo thẩm quyền.
7. Việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp giám sát điện tử được thực hiện theo quy định về hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn của Luật này và Bộ luật Tố tụng hình sự.
8. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
1. Giám sát bởi người đại diện có thể áp dụng đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
2. Bị can, bị cáo bị giám sát bởi người đại diện phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
b) Không bỏ trốn hoặc không tiếp tục phạm tội;
c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án; không tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
3. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định giám sát bởi người đại diện và giao người chưa thành niên là bị can, bị cáo cho người đại diện của họ để thực hiện việc giám sát.
Người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người chưa thành niên, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó.
Trường hợp người đại diện không có điều kiện để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được giao thì người có thẩm quyền quy định tại khoản này quyết định thay đổi người đại diện.
4. Thời hạn giám sát bởi người đại diện không quá thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy định của Luật này. Thời hạn giám sát bởi người đại diện đối với người chưa thành niên bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
5. Người ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát bởi người đại diện phải gửi ngay quyết định này cho người chưa thành niên là bị can, bị cáo, người đại diện của họ; thông báo ngay việc áp dụng biện pháp này cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chưa thành niên là bị can, bị cáo cư trú để quản lý, theo dõi họ.
Trường hợp bị can, bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và phải có giấy cho phép của người đã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát bởi người đại diện. Giấy phép này phải gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
6. Bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản 2 Điều này có thể bị tạm giam. Người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát phải kịp thời thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã về việc vi phạm và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chưa thành niên là bị can, bị cáo cư trú phải báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát bởi người đại diện biết để xử lý theo thẩm quyền.
7. Việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp giám sát bởi người đại diện được thực hiện theo quy định về hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn của Luật này và Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Áp giải có thể áp dụng đối với người chưa thành niên thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người chưa thành niên là bị can, bị cáo đã có giấy triệu tập đến lần thứ hai nhưng cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
b) Người chưa thành niên là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị can, bị cáo đang bị tạm giam từ nơi bị giam, giữ đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử vụ án.
2. Dẫn giải chỉ có thể áp dụng đối với người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
3. Khi áp giải, dẫn giải người chưa thành niên thì không còng tay hoặc áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế khác, trừ trường hợp người chưa thành niên có biểu hiện trốn, hành vi chống đối, gây rối trật tự công cộng.
1. Mọi hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án có người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội phải được tiến hành trong môi trường thuận lợi cho việc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, bí mật cá nhân, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ.
2. Các thủ tục tố tụng thân thiện phải được áp dụng đối với người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội ngay từ giai đoạn khởi tố.
3. Khi tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có thái độ thân thiện, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, khả năng nhận thức và mức độ trưởng thành của họ.
4. Trường hợp cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thụ lý vụ án có người chưa thành niên là người bị buộc tội thì phải đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
5. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết khoản 4 Điều này.
1. Trong vụ án hình sự có bị can là người chưa thành niên và người thành niên thì Cơ quan điều tra tách vụ án hình sự để giải quyết vụ án độc lập đối với bị can là người chưa thành niên.
2. Tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án có người chưa thành niên và vụ án có người thành niên theo quy định tại khoản 1 Điều này được sử dụng trong quá trình giải quyết các vụ án này.
3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.
1. Trường hợp lấy lời khai, hỏi cung người chưa thành niên tại nơi tiến hành điều tra, truy tố thì phải sắp xếp, bố trí phòng lấy lời khai, hỏi cung bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của họ.
2. Khi tiến hành lấy lời khai, hỏi cung, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm giảm đến mức thấp nhất thời gian, số lượng lần lấy lời khai, hỏi cung và phải tạm dừng ngay việc lấy lời khai, hỏi cung khi người chưa thành niên có biểu hiện mệt mỏi, ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ.
3. Việc lấy lời khai, hỏi cung người chưa thành niên phải có mặt người đại diện hoặc người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp cần thiết khi lấy lời khai, hỏi cung, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể mời người làm công tác xã hội, chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học tham gia.
4. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người làm công tác xã hội có thể hỏi người chưa thành niên nếu được Điều tra viên, Kiểm sát viên đồng ý. Điều tra viên, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu không được hỏi và phải dừng ngay việc hỏi trong trường hợp câu hỏi của những người này có tính chất gợi ý, định hướng liên quan đến vụ việc, vụ án.
5. Việc lấy lời khai, hỏi cung người chưa thành niên không quá 02 lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp sau đây:
a) Phạm tội có tổ chức;
b) Để truy bắt người phạm tội khác đang bỏ trốn;
c) Ngăn chặn người khác phạm tội;
d) Để truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật chứng khác của vụ án;
đ) Vụ việc, vụ án có nhiều tình tiết phức tạp.
6. Không lấy lời khai, hỏi cung người chưa thành niên vào ban đêm, trừ trường hợp sau đây:
a) Người chưa thành niên bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
b) Để truy bắt người phạm tội khác đang bỏ trốn;
c) Ngăn chặn người khác phạm tội.
7. Biên bản lấy lời khai, hỏi cung người chưa thành niên chỉ có giá trị pháp lý khi có chữ ký hoặc điểm chỉ của người đại diện hoặc người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
1. Khi cần thiết, Điều tra viên có thể cho người chưa thành niên là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can nhận dạng, nhận biết giọng nói.
Trường hợp cho người chưa thành niên nhận dạng hình ảnh tử thi có hình dạng gây sợ hãi thì phải chuẩn bị kỹ tâm lý cho họ hoặc sử dụng các thiết bị điện tử, hình ảnh mô phỏng phù hợp để nhận dạng.
2. Trong quá trình tiến hành nhận dạng, nhận biết giọng nói, Điều tra viên tạo không khí thoải mái, động viên người chưa thành niên đưa ra nhận diện chính xác nhất có thể. Sau khi người được yêu cầu nhận dạng, nhận biết giọng nói đã xác nhận được một người, một vật, một ảnh hoặc tiếng nói trong số những người, vật, ảnh hoặc giọng nói được đưa ra, Điều tra viên có thể không cần yêu cầu người chưa thành niên giải thích là họ đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận được người, vật, ảnh, giọng nói đó.
3. Không tiến hành nhận dạng, nhận biết giọng nói vào ban đêm, trừ trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 6 Điều 144 của Luật này.
4. Việc cho người chưa thành niên nhận dạng, nhận biết giọng nói phải có mặt người đại diện hoặc người bào chữa của họ.
1. Việc đối chất với người chưa thành niên chỉ được thực hiện trong trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án.
2. Việc đối chất đối với người chưa thành niên chỉ được tiến hành 01 lần trong một ngày và không quá 02 giờ. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tạm dừng ngay việc đối chất khi người chưa thành niên có biểu hiện mệt mỏi, căng thẳng.
3. Khi tiến hành việc đối chất, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể bố trí cho người tham gia đối chất ngồi ở phòng cách ly và sử dụng thiết bị điện tử, màn che hoặc các biện pháp bảo vệ khác để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của người chưa thành niên.
4. Việc cho người chưa thành niên đối chất phải có mặt người đại diện hoặc người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
1. Việc khám xét người, xem xét dấu vết trên thân thể của người chưa thành niên phải có sự tham gia của người đại diện của họ.
2. Bảo đảm thời gian khám xét người, xem xét dấu vết trên thân thể người chưa thành niên được tiến hành nhanh nhất.
Tòa gia đình và người chưa thành niên có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là người bị buộc tội. Đối với Tòa án chưa tổ chức Tòa gia đình và người chưa thành niên thì việc xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là người bị buộc tội do Thẩm phán quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này thực hiện.
1. Tòa án xét xử bị cáo là người chưa thành niên tại phòng xử án thân thiện.
2. Vị trí của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa trong phòng xử án được bố trí trên cùng một mặt phẳng.
Người chưa thành niên là bị cáo tham gia tố tụng tại phiên tòa được ngồi cạnh người bào chữa, người đại diện của họ.
3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Người làm công tác xã hội tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập. Nếu người làm công tác xã hội vắng mặt thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
1. Phiên tòa phải được tổ chức xét xử thân thiện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa mặc trang phục hành chính của Tòa án; Kiểm sát viên mặc trang phục phù hợp, không mặc trang phục Kiểm sát nhân dân.
2. Khi xét xử không còng tay hoặc áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế khác, trừ trường hợp người chưa thành niên có biểu hiện chống đối, gây mất trật tự tại phiên tòa hoặc hành động tiêu cực khác.
3. Người đại diện của người chưa thành niên có thể hỗ trợ người chưa thành niên tại phiên tòa.
4. Chủ tọa phiên tòa đề nghị người làm công tác xã hội có mặt tại phiên tòa trình bày báo cáo điều tra xã hội và báo cáo điều tra xã hội bổ sung (nếu có), đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng (nếu có) và những vấn đề khác có liên quan.
5. Việc xét hỏi, tranh luận đối với người chưa thành niên tại phiên tòa được tiến hành phù hợp với lứa tuổi, giới tính, khả năng nhận thức và mức độ trưởng thành của họ. Câu hỏi cần ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc.
6. Khi xét xử, nếu xét thấy người chưa thành niên có đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thì Hội đồng xét xử xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với bị cáo. Quyết định này phải có các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này, trừ nội dung đình chỉ vụ án đối với bị cáo. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp xét thấy cần xây dựng hoặc bổ sung kế hoạch xử lý chuyển hướng thì Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa và đề nghị người làm công tác xã hội xây dựng hoặc bổ sung kế hoạch xử lý chuyển hướng. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa không quá 10 ngày kể từ ngày quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn tạm ngừng phiên tòa, Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
7. Sau khi tuyên án hoặc công bố quyết định, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam người chưa thành niên nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người chưa thành niên đang bị tạm giam nhưng xét thấy cần tiếp tục tạm giam để bảo đảm thi hành bản án, quyết định;
b) Người chưa thành niên không bị tạm giam nhưng có căn cứ cho thấy họ có thể bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội.
8. Thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên được thực hiện như sau:
a) Không quá 45 ngày kể từ ngày tuyên án;
b) Không quá 25 ngày kể từ ngày công bố quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Khi tuyên án, Hội đồng xét xử đọc phần quyết định trong bản án. Sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án, quyền kháng cáo và những nội dung khác theo quy định của pháp luật.
LEGAL PROCEEDINGS FOR JUVENILES WHO ARE PERSONS FACING DENUNCIATION OR REQUISITIONS FOR CHARGES, PERSONS HELD IN EMERGENCY CUSTODY, PERSONS FACING CHARGES
Article 128. Issues to be determined when conducting legal proceedings for accused juveniles
1. 1. Age, physical and mental development level, level of awareness of the criminal behavior of the juvenile.
2. Living and educational conditions.
3. Whether or not there was an adult who instigated the crime.
4. Causes, conditions, and circumstances of the crime.
Article 129. Time limits for investigation, decisions on prosecution, preparation for adjudication in the first instance/second instance
1. Time limits for investigation, decisions on prosecution, preparation for adjudication in the first instance/second instance for cases involving accused juveniles shall not exceed half of the time limits prescribed by Criminal Procedure Code.
For particularly complex cases or during the prosecution and adjudication in the first instance, the Procuracy and the Court shall issue a notification on applying diversion procedure, then the corresponding regulations on the time limits for investigation, decisions on prosecution, preparation for adjudication in the first instance/second instance as prescribed in the Criminal Procedure Code shall apply.
2. The Prosecutor General of the Supreme People's Procuracy shall take charge and cooperate with the Chief Justice of the Supreme People's Court, the Minister of Public Security, and the Minister of National Defense, shall elaborate this Article.
1. Accused juveniles have the right to defend himself or herself or to have someone else defend him or her.
2. The representative of the accused juvenile has the right to choose a defense counsel or to defend the juvenile himself or herself
3. If the accused juvenile does not agree with the defense counsel selected by the representative, the choice must be made according to the opinion of the accused juvenile.
4. If the accused juvenile does not hire a defense counsel or his or her representative does not select a defense counsel, the competent procedural agency must appoint a defense counsel in accordance with the Criminal Procedure Code. If the accused juvenile does not hire a defense counsel or his or her representative does not select a defense counsel, the competent procedural agency must appoint a defense counsel in accordance with the Criminal Procedure Code.
Article 131. Notification of procedural activities
1. Before the legal proceedings, the competent procedural agency, person must notify in advance, within a reasonable time, the representative, the defense counsel, the person protecting the lawful rights and interests of the juvenile who is person facing denunciation or requisition for charge, person held in emergency custody, person facing charge of the time and place of conducting the legal proceedings in which they have the right to participate in accordance with this Law and the Criminal Procedure Code.
2. The notification must be in writing, clearly stating the full name, address, and phone number of the person issuing the notification and the person being notified. In cases where it is necessary to ensure the timely presence of the representative, defense counsel, or person protecting lawful rights and interests of the juvenile who is person facing denunciation or requisition for charge, person held in emergency custody, person facing charge, the competent procedural agency, person may notify directly, by telephone or other electronic means, but must immediately send a written notice afterwards.
3. The representative, defense counsel, or person protecting lawful rights and interests of the juvenile who is person facing denunciation or requisition for charge, person held in emergency custody, person facing charge, upon receiving the notification, must promptly inform the competent procedural agency, person of their presence and participation in the legal proceedings.
4. Notification of other procedural activities shall be carried out in accordance with the Criminal Procedure Code.
Article 132. Representatives’ participation in legal proceedings
1. The representative of the juvenile who is the person facing denunciation or requisition for charge, the person held in emergency custody, or the person facing charge shall have the right and obligation to participate in legal proceedings in accordance with competent procedural agency.
2. Cases ineligible to be the representative of a juvenile who is the person facing denunciation or requisition for charge, the person held in emergency custody, or the person facing charge include:
a) This person's participation will have a negative impact on the psychology of the juvenile, affecting the determination of the truth of the case;
b) This person's behavior is the direct cause of the crime of the juvenile.
3. The representative of the juvenile who is the person facing denunciation or requisition for charge, the person held in emergency custody, or the person facing charge are allowed to participate in taking testimonies, interrogating, confronting, searching body, inspecting traces across the body of the juvenile, participating in the identification, voice recognition and other procedural activities of the juvenile as prescribed by this Law and the Criminal Procedure Code; presenting evidence, documents, objects, requests, complaints, denunciations; reading, recording, photocopying documents related to the accusation of the juvenile in the case file after the investigation is completed
4. The representative of the juvenile who is the defendant, when participating in the trial has the right to present evidence, documents, objects, requests and proposals to change the presiding officers; express opinions, debate; complain about the procedural acts of those with authority to institute proceedings and the decisions of the Court.
5. Immediately after admitting a case, the competent procedural agency must notify in writing the representative of the juvenile who is the person facing denunciation or requisition for charge, the person held in emergency custody, or the person facing charge to participate in the proceedings; if necessary, the notification may be made directly, by phone or other electronic means, but a written one must be sent immediately afterwards.
6. The representative must be present at the time and place stated in the notification.
Article 133. Organizations’ participation in legal proceedings
1. Representatives of educational institutions, vocational training institutions, the Vietnam Women's Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union, and other organizations where juveniles study, work, and live have the right and obligation to participate in the legal proceedings in accordance with the decision of the competent procedural agency.
2. The persons specified in Clause 1 of this Article, when participating in the trial, have the right to present evidence, documents, objects, requests; express opinions, and debate.
Article 134. Maintaining confidentiality of information of juveniles who are persons facing denunciation or requisitions for charges, persons held in emergency custody, persons facing charges
1. Information related to crimes of juveniles shall not be made public, except in cases where the person is under a pursuit warrant of a competent authority.
2. Documents, evidence, and information related to the personal identity and crimes of juveniles shall only be used for the settlement of the case and shall be strictly prohibited from being used for other purposes.
3. In special cases where it is necessary to protect juveniles, the Court may conduct a secret adjudication but must publicly announce the decision of the judgment.
Section 2. PREVENTIVE MEASURES, COERCIVE MEASURES
Article 135. Preventive measures, coercive measures
1. Preventive measures applying to juveniles include:
a) Emergency custody;
b) Arrest for cases specified in the Criminal Procedure Code;
c) Temporary detainment;
d) Detention;
dd) Electronic monitoring (EM);
e) Being put under supervision of the representative;
g) Bail;
h) Surety;
i) Residential confinement;
k) Exit restriction.
2. Coercive measures applying to juveniles include:
a) Coercive delivery and forced escort
b) Distrainment of property;
c) Freezing of accounts.
3. After emergency custody, arrest, temporary detainment or detention, persons issuing detainment order or custodial orders against juveniles inform in writing the juveniles’ families, the commune-level People's Committees where they reside or agencies, organizations where they work or study; if necessary, the notification may be made directly, by phone or other electronic means, but a written one must be sent immediately afterwards.
Within 12 hours from the time receiving juveniles who are detainees, arrestees, investigation authorities receiving detainees, arrestees must inform their families, the commune-level People's Committees where they reside or agencies, organizations where they work or study; if the detainees, arrestees are foreigners, Vietnamese diplomatic authorities must be informed to deliver notices to diplomatic missions of countries whose citizens are detained or arrested.
If such notice obstructs the pursuit of suspects or investigative activities, investigation authorities receiving detainees and arrestees shall release notices after such obstructions suspend to exist.
Article 136. Emergency custody
1. Persons 14 to under 16 years of age may be held in emergency custody for crimes for which they are criminally liable under the Criminal Code if they fall under the cases subject to emergency custody as prescribed in the Criminal Procedure Code.
2. Persons 16 to under 18 years of age may be held in emergency custody for intentional serious crimes, very serious crimes, extremely serious crimes for which they are criminally liable under the Criminal Code if they fall under the cases subject to emergency custody as prescribed in the Criminal Procedure Code.
Article 137. Temporary detainment
1. Persons 14 to under 16 years of age may keep in Temporary detainment for crimes for which they are criminally liable under the Criminal Code if they fall under the cases subject to Temporary detainment as prescribed in the Criminal Procedure Code.
2. Persons 16 to under 18 years of age may be temporarily detained for intentional serious crimes, very serious crimes, extremely serious crimes for which they are criminally liable under the Criminal Code if they fall under the cases subject to Temporary detainment as prescribed in the Criminal Procedure Code.
Persons 16 to under 18 years of age may be temporarily detained for unintentional serious crimes or less serious crimes if they continue to commit more crimes or escape and get caught under pursuit warrants.
3. The duration of temporary detainment must not exceed 3 days from the time the Investigation Authority or the agency assigned to conduct certain investigation activities receives the detainee or arrestee or escorts the detainee or arrestee to its headquarters or from the time the Investigation Authority make an order to temporarily detain the offender who turns themselves in. If necessary, the person making the order of temporary detainment may extend the detainment duration once but not more than 03 days.
Within 12 hours of receiving the application for an extension of temporary detainment, the Procuracy at the same level or the competent Procuracy must issue a decision to approve or not approve.
1. Detention may be applied to juveniles who are suspects or defendants from 14 to under 16 years of age for extremely serious crimes as prescribed by the Criminal Code when there are grounds to determine that that person falls into one of the following cases:
a) Other preventive measures have been applied, but the offender still continues to violate the law;
c) He/she does not have a clear place of residence;
c) He/she escapes and gets caught under a pursuit warrant;
d) He/she continues to commit crimes or there is reason to believe that this person is searching for, preparing tools, means or creating other conditions to continue committing crimes;
d) He/she destroys or forges evidence, documents, or objects of the case; threatens, represses, or takes revenge on witness testifiers, crime victims, denouncers, and their kin.
2. Detention may be applied to juveniles who are suspects or defendants from 14 to under 16 years of age for very serious crimes as prescribed by the Criminal Code when there are grounds to determine that that person falls into one of the following cases:
a) Other preventive measures have been applied, but the offender still continues to violate the law;
c) He/she does not have a clear place of residence;
c) He/she escapes and gets caught under a pursuit warrant;
d) He/she continues to commit crime;
d) He/she destroys or forges evidence, documents, or objects of the case; threatens, represses, or takes revenge on witness testifiers, crime victims, denouncers, and their kin.
3. Detention may be applied to juveniles who are suspects or defendants from 16 to under 18 years of age for intentional serious crimes, very serious crimes, extremely serious crimes as prescribed by the Criminal Code when there are grounds to determine that that person falls into one of the following cases:
a) Other preventive measures have been applied, but the offender still continues to violate the law;
c) He/she does not have a clear place of residence;
c) He/she escapes and gets caught under a pursuit warrant, or there are grounds proving that he/she will escape;
d) He/she continues to commit crimes or there is reason to believe that this person is searching for, preparing tools, means or creating other conditions to continue committing crimes;
d) He/she bribes, coerces, or incites other individuals to give false statements or documents; destroys or forges evidence, documents, or objects of the case; threatens, represses, or takes revenge on witness testifiers, crime victims, denouncers, and their kin.
4. Detention may be imposed on persons 16 to under 18 years of age for unintentional serious crimes or less serious crimes if they continue to commit more crimes or escape and get caught under pursuit warrants.
5. The detention period for juveniles who are suspects or defendants shall not exceed half of the corresponding detention period prescribed in the Criminal Procedure Code, except in the case prescribed in Clause 8 of Article 151 of this Law. When there are no longer grounds for applying detention, the competent procedural agency or person must promptly cancel or replace the measure with another preventive measure.
6. If the juveniles who are suspects or defendants are being held in detention and there are notifications of the application of the diversion procedure, presiding authorities shall consider continuing the detention or canceling it and replacing it with another preventive measure.
7. The Prosecutor General of the Supreme People's Procuracy shall take charge and cooperate with the Chief Justice of the Supreme People's Court, the Minister of Public Security, and the Minister of National Defense, shall elaborate clause 5 of this Article.
Article 139. Electronic monitoring - EM
1. EM is an alternative preventive measure to detention. Based on the nature, level of danger to society of the behavior and personal identity of the juvenile who is a suspect or defendant, the Investigation Authority, the Procuracy, or the Court may decide to allow them to be electronically monitored.
2. The suspect or defendant under EM must make a written commitment to perform the following obligations:
a) Not leaving the monitoring area, except in cases specified in Clause 5 of this Article;
b) Being present upon summons, except in cases of force majeure or objective obstacles;
c) Not escaping or continuing to commit crimes;
a) Not committing acts of bribing, coercing or inciting other individuals to give false statements or documents, destroying or forging case evidences, documents and item, shifting property related to the case away, threatening, repressing or avenging witness testifiers, crime victims, denouncers and their kin;
dd) Not removing or destroying electronic monitoring devices or disrupt the operation of electronic monitoring devices.
3. The Head and Deputy Head of the Investigation Authority, the Director and Deputy Director of the Procuracy, the Chief Justice and Deputy Chief Justice of the Court, the Judge presiding over the trial, and the Adjudication Panel have the right to issue decisions on electronic monitoring of minors who are suspects or defendants and must clearly state the scope of monitoring. The decision of the Head and Deputy Head of the Investigation Authority must be approved by the Procuracy of the same level before enforcement.
4. The period of electronic monitoring shall not exceed the time limit for investigation, decisions on prosecution, preparation for adjudication in the first instance/second instance as prescribed in this Law. The period of electronic monitoring for a person sentenced to imprisonment shall not exceed the time limit from the date of sentencing until the time the person goes to serve imprisonment.
5. The person who issues the decision on applying electronic monitoring must immediately send this decision to the juvenile who is the suspect, the defendant, and their representative; immediately notify the People's Committee of the commune where the juvenile resides and hand over the juvenile to the People's Committee of that commune for enforcement.
If the juvenile who is the suspect, the defendant must temporarily leave the area of monitoring due to force majeure or objective obstacles, the consent of the People's Committee of the commune where the person resides and a permit from the person who issued the decision on applying electronic monitoring must be obtained; The permit must be sent to the People's Committee of the commune where the person resides.
6. If the suspects and defendants violate duties guaranteed in clause 2 of this Article, they shall be held in detention. People's Committees of communes where the suspects and defendants reside must inform the authorities issuing Decision on applying electronic monitoring about the violations to handle them within their jurisdiction.
7. Cancellation or replacement of electronic monitoring shall comply with the regulations on cancellation or replacement of preventive measures of this Law and the Criminal Procedure Code.
8. The Government shall elaborate this Article.
Article 140. Measures of being put under supervision of the representative
1. Measures of being put under the supervision of the representative shall apply to juveniles who are suspects or defendants to ensure that they are present upon being summoned by Investigation authorities, Procuracies, Courts.
2. The suspect or defendant under supervision of the representative must make a written commitment to perform the following obligations:
a) Being present upon summons, except in cases of force majeure or objective obstacles;
b) Not escaping or continuing to commit crimes;
c) Not committing acts of bribing, coercing or inciting other individuals to give false statements or documents, destroying or forging case evidences, documents and item, shifting property related to the case away, threatening, repressing or avenging witness testifiers, crime victims, denouncers and their kin;
3. The Head and Deputy Head of the Investigation Authority, the Director and Deputy Director of the Procuracy, the Chief Justice and Deputy Chief Justice of the Court, the Judge presiding over the trial, and the Adjudication Panel have the right to issue decisions on measures of being put under the supervision of the representative and handle over the juveniles who are suspects, defendants to their representatives for supervision.
The representative assigned to supervise has the obligation to closely supervise the juvenile and his/her conduct, morality and education.
In case the representative is not able to continue performing the assigned tasks or fails to complete the assigned tasks, the competent person specified in this clause shall decide to change the representative.
4. The period of measures of being put under supervision of the representative shall not exceed the time limit for investigation, decisions on prosecution, preparation for adjudication in the first instance/second instance as prescribed in this Law. The period of the measure of being put under supervision of the representative for a juvenile sentenced to imprisonment shall not exceed the time limit from the date of sentencing until the time the person goes to serve imprisonment.
5. The person who issues the decision on applying the measure of being put under supervision must immediately send this decision to the juvenile, who is the suspect, the defendant, and their representative; immediately notify the People's Committee of the commune where the juvenile resides for management and supervision of the juvenile.
If the juvenile who is the suspect or defendant must temporarily leave the place of residence due to force majeure or objective obstacles, the consent of the People's Committee of the commune where the person resides and a permit from the person who issued the decision on applying the measure of being put under supervision must be obtained. The permit must be sent to the People's Committee of the commune where the person resides.
6. If the suspects and defendants violate duties guaranteed in clause 2 of this Article, they may be held in detention. The representative assigned to supervise must promptly inform the People's Committee at the commune level of the violation and cooperate with competent authorities to take timely measures to prevent and handle it. People's Committees of communes where juveniles who are suspects and defendants reside must inform the authorities issuing Decision on applying the measure of being put under supervision about the violations to handle them within their jurisdiction.
7. Cancellation or replacement of measures of being put under supervision shall comply with the regulations on cancellation or replacement of preventive measures of this Law and the Criminal Procedure Code.
Article 141. Coercive delivery and forced escort
1. Coercive delivery and forced escort shall be imposed on juveniles in one of the following cases:
a) Juveniles who are suspects or defendants that have been summoned for the second time but are intentionally absent not due to a force majeure reason or an objective obstacle;
b) Juveniles who are persons held in emergency custody, suspects and defendants held in detention from the place of detention, temporary detainment to the location of investigation, prosecution and adjudication of the case.
2. Forced escort shall only apply on juveniles who are persons facing denunciation or requisitions for charges and through examination and verification there are enough grounds to determine that they are involved in a crime for which the case is prosecuted, has been summoned but is still absent without force majeure or objective obstacles.
3. When escorting the juvenile, handcuffs or other coercive measures shall not be applied, except in cases where the juvenile shows signs of escape, acts of resistance, or disturbs public order.
Section 3. PROCEDURES FOR FILING OF CHARGES, INVESTIGATION, PROSECUTION
Article 142. Lodging and processing of criminal information, filing of charges, investigation, prosecution
1. All activities of lodging and processing of criminal information, filing of charges, investigation of cases involving juveniles who are persons facing denunciation or requisitions for charges, persons held in emergency custody, persons facing charges must be conducted in an environment that is favorable for ensuring the safety of their lives, health, personal privacy, honor, dignity, and other lawful rights and interests.
2. Friendly legal proceedings must be applied to juveniles who are persons facing denunciation or requisitions for charges, persons held in emergency custody, persons facing charges right from the stage of prosecution.
3. When conducting proceedings against juveniles who are persons facing denunciation or requisitions for charges, persons held in emergency custody, persons facing charges, competent procedural persons must have a friendly attitude and use easy-to-understand language that is appropriate to their age, gender, cognitive ability, and maturity level.
4. In case the agency assigned to conduct some investigation admits a case involving a juvenile who is a person facing charges, it must request the competent Procuracy to issue a decision to transfer the entire case to the competent Investigation authority.
5. The Prosecutor General of the Supreme People's Procuracy shall take charge and cooperate with the Chief Justice of the Supreme People's Court, the Minister of Public Security, and the Minister of National Defense, shall elaborate clause 4 of this Article.
Article 143. Separation in criminal cases involving juveniles
1. In a criminal case involving a juvenile and an adult defendant, the Investigation Authority shall separate the criminal case to resolve the case independently for the juvenile defendant.
2. Documents and evidence collected during the resolution of cases involving juveniles and cases involving adults as prescribed in Clause 1 of this Article shall be used in the resolution of these cases.
3. The Prosecutor General of the Supreme People's Procuracy shall take charge and cooperate with the Chief Justice of the Supreme People's Court, the Minister of Public Security, and the Minister of National Defense, shall elaborate this Article.
Article 144. Statement extraction or interrogation
1. For cases of statement extraction from or interrogation of juveniles at the place of investigation and prosecution, the room for statement extraction from or interrogation must be arranged to ensure friendliness and suitability for their psychology and age.
2. While extracting statements and interrogating, the competent procedural person must consider applying appropriate measures to minimize the time and number of times of extracting statements and interrogating and must immediately stop extracting statements and interrogating when the juvenile shows signs of fatigue, affecting the ability to give accurate and complete statements.
3. While extracting statements and interrogating juveniles, their representatives or defense counsels, or persons protecting their lawful rights and interests must be present; cases where it is necessary to keep the investigation confidential for crimes against national security shall be handled in accordance with the Criminal Procedure Code.
If necessary, when extracting statements and interrogating, the competent procedural agency may invite social workers, medical, psychological, educational, and social work experts.
4. After each time of statement extraction or interrogation by the competent person, the representative, the defense counsel, the person protecting of lawful rights and interests, and the social worker may interrogate the juvenile if the Investigator or Prosecutor agrees. The Investigator or Prosecutor has the right to request the cancellation of the interrogation, and the interrogation must immediately stop in case the questions of these people are suggestive or directional in nature related to the case.
5. Statement extraction from or interrogation of juveniles must not be carried out more than 02 times per day, 02 hours per session, except for the following cases:
a) Organized crimes;
b) Seeking of fugitive criminals;
c) Prevention of crimes;
d) Search of tools or instruments of crime or other exhibits related to the case;
dd) Cases with several complex facts.
6. Statement extraction from or interrogation of juveniles must not be carried out at night, except for the following cases:
a) Juveniles held in emergency custody;
b) Seeking of fugitive criminals;
c) Prevention of crimes.
7. Written records of statements and interrogation bear no legal effect when they have the signature or fingerprint of juveniles’ representatives or defense counsels, or persons protecting their lawful rights and interests.
Article 145. Identification, voice recognition
1. Investigators, when necessary, may let juveniles who are arrestees, detainees and defendants to identify, recognize voices.
In case the juvenile is asked to identify an image of a corpse with a frightening appearance, he/she must be psychologically prepared or use appropriate electronic devices and simulated images for identification.
2. During the process of identification and voice recognition, the Investigator must create a comfortable atmosphere and encourage the minor to make the most accurate identification possible. After the identifying identifies, recognizes an individual, item or photo displayed for identification or one of the voices projected, the Investigator are not required to ask the juvenile to explain on how he/she identifies, recognizes that person, item, photo or voice.
3. Identification, voice recognition shall not be carried out at night, except for cases specified in Points b and c of Clause 6 of Article 144 of this Law.
4. Identification and voice recognition must be carried out in the presence of juveniles’ representatives or defense counsels.
1. Confrontation with juveniles shall only be carried out in cases where the case cannot be resolved without confrontation.
2. Confrontation with juveniles shall only be carried out once a day and shall not last more than 2 hours. The competent procedural person shall immediately suspend the confrontation if the juvenile shows signs of fatigue or stress.
3. When conducting the confrontation, the competent procedural person may put the participants in an isolated room and use electronic devices, curtains, or other protective measures to avoid affecting the psychology of the juvenile.
4. The confrontation with minors must be conducted in the presence of their representatives or defense counsels and persons protecting their lawful rights and interests.
Article 147. Search of body, inspection of traces across a body
1. Search of body, inspection of traces across a body of a juvenile must be conducted in the presence of his/her representative.
2. Search of body, inspection of traces across a body of a juvenile must be carried out as fast as possible.
Section 4. ADJUDICATION PROCEDURE
Article 148. Authority to adjudicate criminal cases
The Family and Juvenile Court has the authority to adjudicate criminal cases involving juveniles who are accused persons. For Courts that have not yet organized the Family and Juvenile Court, the adjudication of criminal cases involving juveniles who are accused persons shall be conducted by the Judge specified in Clause 1 of Article 29 of this Law.
Article 149. Friendly courtroom
1. The court shall adjudicate the defendant who is a juvenile in a friendly courtroom.
2. The positions of the presiding officers, participants in legal proceedings, and participants in the trial in the courtroom shall be arranged on the same plane.
The juvenile who is a defendant participating in the court proceedings shall sit next to his/her defense counsel or representative.
3. The Chief Justice of the Supreme People's Court shall elaborate this Article.
Article 150. Attendance of social workers
The social worker shall attend the trial when summoned by the Court. If the social worker is absent, depending on the case, the Trial Panel shall decide to postpone the trial or continue the adjudication.
Article 151. Friendly adjudication procedure
1. Trials must be conducted in a friendly manner, ensuring lawful rights and interests of juveniles. The Judge presiding over the trial must wear the administrative uniform of the Court; the prosecutor must wear appropriate uniform, not the uniform of the People's Procuracy.
2. During the trial, handcuffs or other coercive measures must not be applied, except in cases where the juvenile shows signs of resistance, causes disorder in the trial or other negative actions.
3. The representative of the juvenile may assist the juvenile at the trial.
4. Court president shall request the social worker present at the trial to present the social investigation report and the additional social investigation report (if any), propose the application of diversion measures (if any) and other related issues.
5. The questioning and debate with juveniles at court shall be conducted a manner that is suitable with their age, gender, cognitive ability and maturity. Questions should be brief, simple, and easy to understand, and not cover multiple issues at once.
6. During the trial, if the juvenile is found to be eligible for diversion measures, the Trial Panel shall review and decide to apply diversion measures on the defendant. This decision shall include the contents specified in Clause 1 of Article 56 of this Law, except for content related to adjournment of the lawsuits against the defendant. This decision may be appealed in accordance with the Criminal Procedure Code.
If it is deemed necessary to develop or supplement a diversion plan, the Trial Panel shall decide to suspend the trial and request the social worker to develop or supplement a diversion plan. The suspension period of the trial shall not exceed 10 days from the date of the trial suspension decision. After the suspension of the trial, the Trial Panel shall continue to resolve the case in accordance with law.
7. After pronouncing judgments or announcing decisions, the Trial Panel shall decide to hold the juvenile in detention in one of the following cases:
a) The juvenile is being held in detention, but it is deemed necessary to continue with the detention to ensure the enforcement of the judgment or decision;
b) The juvenile is not being held in detention, but there are grounds to believe they may flee or commit further offenses.
8. The detention period applicable to juveniles is prescribed as follows:
a) No more than 45 days from the date of pronouncing judgments;
b) No more than 25 days from the date of announcing the decision on applying the educational measure at reformatory.
Article 152. Pronouncement of judgments
When pronouncing judgments, The Trial Panel shall read the decision in the judgment. Additional explanations on the abidance by the sentences and the right to appeal and other contents may be provided after the reading of the judgment in accordance with law.
Cập nhật
Bài viết liên quan
Tội giết người được là loại tội phạm gì theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người được là loại tội phạm gì theo BLHS mới nhất 2025?
Trong Bộ luật Hình sự năm 2025, tội giết người tiếp tục được xác định là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng con người – nhóm quyền cơ bản và tối thượng nhất được pháp luật bảo vệ. Với bản chất là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác, tội danh này không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng về mặt nhân thân mà còn làm mất an ninh trật tự xã hội. Vậy, theo phân loại của pháp luật hình sự hiện hành, tội giết người được xếp vào loại tội phạm nào? Bài viết sau sẽ phân tích căn cứ pháp lý và cơ sở phân loại tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2025 để làm rõ vấn đề này. 16/06/2025Thế nào là lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo BLHS mới nhất 2025?
Thế nào là lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo BLHS mới nhất 2025?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Một trong những yếu tố quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự trong tội danh này là lỗi của người phạm tội, bao gồm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi cố ý gián tiếp xảy ra khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra . Bài viết này sẽ phân tích chi tiết khái niệm lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo quy định mới nhất của Bộ luật Hình sự năm 2025, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về cách áp dụng pháp luật trong thực tiễn. 16/06/2025Tội giết người vượt quá phòng vệ chính đáng mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người vượt quá phòng vệ chính đáng mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, phòng vệ chính đáng là quyền hợp pháp nhằm bảo vệ bản thân hoặc người khác khỏi hành vi xâm hại. Tuy nhiên, khi hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn cần thiết, gây hậu quả nghiêm trọng như tước đoạt tính mạng người khác, người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Hình sự, hành vi giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội có thể bị xử lý với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm; nếu phạm tội đối với 2 người trở lên, mức phạt tù từ 2 năm đến 5 năm . Bài viết này sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật liên quan và mức hình phạt áp dụng trong trường hợp này theo quy định mới nhất năm 2025. 16/06/2025Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mức xử lý hình sự mới nhất 2025 ra sao?
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mức xử lý hình sự mới nhất 2025 ra sao?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt". Vậy, hành vi giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người chưa đạt theo quy định hiện hành. 16/06/2025Tội giết người không thành có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người không thành có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người được xem là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt" hoặc "giết người không thành". Vậy, hành vi giết người không thành có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người không thành theo quy định hiện hành. 16/06/2025Tội giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt". Vậy, hành vi giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người chưa đạt theo quy định hiện hành. 16/06/20254 yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS mới nhất 2025
4 yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS mới nhất 2025
Dưới ánh sáng của Bộ luật Hình sự năm 2025 – phiên bản mới nhất phản ánh sự thay đổi và hoàn thiện của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam – tội giết người tiếp tục được quy định là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống – quyền cơ bản nhất của con người. Để xác định một hành vi có cấu thành tội giết người hay không, cần phải phân tích đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Bài viết này sẽ trình bày bốn yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS 2025, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về căn cứ pháp lý và cách áp dụng trong thực tiễn tố tụng hình sự. 16/06/2025Tội giết người Khoản 2 mức phạt cao nhất 15 năm tù theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người Khoản 2 mức phạt cao nhất 15 năm tù theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, vẫn đang được áp dụng tính đến năm 2025. Theo đó, Khoản 2 của điều luật này quy định mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm đối với các hành vi giết người không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1, tức là không có các tình tiết tăng nặng như giết nhiều người, giết người dưới 16 tuổi, giết phụ nữ có thai, giết người đang thi hành công vụ, hoặc vì động cơ đê hèn. Việc áp dụng hình phạt cụ thể trong khung hình phạt này phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành về tội giết người theo Khoản 2 Điều 123, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt trong thực tiễn xét xử. 16/06/2025Tội giết người Khoản 1 mức phạt cao nhất tử hình theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người Khoản 1 mức phạt cao nhất tử hình theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và vẫn đang được áp dụng tính đến năm 2025. Theo đó, Khoản 1 của điều luật này quy định mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với các hành vi giết người có tính chất đặc biệt nghiêm trọng như. giết từ hai người trở lên, giết người dưới 16 tuổi, giết phụ nữ mà biết là có thai, giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân, giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình, hoặc vì động cơ đê hèn. Việc áp dụng hình phạt cụ thể trong khung hình phạt này phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành về tội giết người theo Khoản 1 Điều 123, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt trong thực tiễn xét xử. 16/06/2025Tội giết người xử lý hình sự ra sao theo BLHS mới nhất 2025?
