Tìm kiếm
Chương IV Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024: Thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
| Số hiệu: | 59/2024/QH15 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Quốc hội | Người ký: | Trần Thanh Mẫn |
| Ngày ban hành: | 30/11/2024 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2026 |
| Ngày công báo: | 30/12/2024 | Số công báo: | Từ số 1537 đến số 1538 |
| Lĩnh vực: | Bộ máy hành chính, Thủ tục tố tụng dân sự | Tình trạng: | Chưa có hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Ngày 30/11/2024, Quốc hội thông qua Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, trong đó có quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Quy định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có quy định áp dụng hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội như sau:
- Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, lối sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có tác dụng phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Trường hợp phải áp dụng hình phạt thì ưu tiên áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.
- Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội nếu thuộc trường hợp sau đây thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm:
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội;
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý.
Ngoài ra theo Điều 13 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 người chưa thành niên phạm tội cần được bảo đảm giữ bí mật cá nhân, cụ thể:
- Bí mật cá nhân của người chưa thành niên phải được tôn trọng, bảo vệ trong suốt quá trình tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, xử lý chuyển hướng, thi hành án và tái hòa nhập cộng đồng.
- Tòa án xét xử kín đối với vụ án hình sự có người chưa thành niên bị xâm hại tình dục hoặc trường hợp đặc biệt khác cần bảo vệ người chưa thành niên.
- Trường hợp người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tham gia tố tụng thì phải bố trí phòng cách ly hoặc các biện pháp bảo vệ khác.
Xem chi tiết nội dung tại Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trừ trường hợp vụ án có yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản.
2. Thẩm phán, Hội đồng xét xử có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại Điều 36 của Luật này.
1. Ngay sau khi khởi tố bị can là người chưa thành niên, Cơ quan điều tra phải có văn bản yêu cầu người làm công tác xã hội trong danh sách quy định tại khoản 5 Điều 32 của Luật này tham gia tố tụng. Trường hợp cần thiết có thể yêu cầu trực tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay sau đó phải gửi yêu cầu bằng văn bản.
2. Việc lựa chọn người làm công tác xã hội theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a) Công chức, viên chức, người lao động làm công tác xã hội cư trú cùng địa bàn đơn vị hành chính cấp xã với người chưa thành niên;
b) Công chức, viên chức, người lao động làm công tác xã hội cư trú cùng địa bàn đơn vị hành chính cấp huyện với người chưa thành niên;
c) Người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã hoặc công chức văn hóa - xã hội cấp xã nơi người chưa thành niên cư trú;
d) Người làm công tác xã hội khác theo quy định của pháp luật.
3. Trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Cơ quan điều tra, người làm công tác xã hội phải trả lời bằng văn bản về việc tham gia tố tụng. Trường hợp cần thiết có thể thông báo trực tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay sau đó phải gửi văn bản.
4. Trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày người làm công tác xã hội xác nhận tham gia tố tụng, Cơ quan điều tra phải có văn bản thông báo về việc tham gia tố tụng và gửi cho họ. Thông báo này phải có nội dung yêu cầu người làm công tác xã hội xây dựng báo cáo điều tra xã hội về người chưa thành niên là bị can.
Văn bản thông báo về việc tham gia tố tụng của người làm công tác xã hội có giá trị trong suốt quá trình tố tụng.
5. Người làm công tác xã hội là người tham gia tố tụng kể từ khi có văn bản thông báo về việc tham gia tố tụng.
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc tham gia tố tụng, người làm công tác xã hội phải hoàn thành báo cáo điều tra xã hội về người chưa thành niên là bị can và gửi cho Cơ quan điều tra.
2. Báo cáo điều tra xã hội phải có các nội dung chính sau đây:
a) Họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, số định danh cá nhân, nơi cư trú của người chưa thành niên;
b) Họ và tên, nơi cư trú của người đại diện của người chưa thành niên;
c) Họ và tên, nơi làm việc (nếu có) của người làm công tác xã hội;
d) Hoàn cảnh gia đình, môi trường sống của người chưa thành niên;
đ) Mức độ trưởng thành của người chưa thành niên;
e) Tình trạng sức khỏe của người chưa thành niên;
g) Tình hình học tập, trình độ văn hóa, nghề nghiệp của người chưa thành niên;
h) Các yếu tố có thể là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên;
i) Địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới, người có ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi của người chưa thành niên (nếu có);
k) Đề xuất áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng (nếu có).
3. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin về người chưa thành niên là bị can khi người làm công tác xã hội đề nghị.
4. Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người làm công tác xã hội xây dựng báo cáo điều tra xã hội bổ sung trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận được báo cáo điều tra xã hội; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, Tòa án nhận được hồ sơ vụ án và bản cáo trạng thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát hoặc Thẩm phán phải căn cứ vào quy định tại các điều 35, 37, 38 và 39 của Luật này để ra thông báo áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng.
2. Thông báo áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng phải có các nội dung chính sau đây:
a) Số, ngày, tháng, năm ra thông báo;
b) Tên cơ quan ra thông báo;
c) Họ và tên của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát hoặc Thẩm phán ra thông báo;
d) Họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, số định danh cá nhân, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa của người chưa thành niên là bị can;
đ) Họ và tên, nơi làm việc (nếu có) của người bào chữa;
e) Lý do, căn cứ ra thông báo;
g) Áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng;
h) Nơi nhận thông báo.
3. Thông báo áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng được gửi cho người chưa thành niên là bị can, người đại diện của họ, người bào chữa, người làm công tác xã hội và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra thông báo.
4. Ngay sau khi ra thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết như sau:
a) Nếu xét thấy người chưa thành niên thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng thì có văn bản yêu cầu người làm công tác xã hội xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này.
Văn bản yêu cầu phải có các thông tin về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của người chưa thành niên và các thông tin khác cần thiết cho việc xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng;
b) Nếu xét thấy người chưa thành niên thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng mà hồ sơ vụ án đã có kế hoạch xử lý chuyển hướng, thì Viện kiểm sát, Tòa án xem xét mở phiên họp theo quy định tại Điều 59 của Luật này khi thấy không cần thiết phải bổ sung hoặc xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng mới;
c) Nếu xét thấy người chưa thành niên thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có văn bản, kèm theo hồ sơ vụ án đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Trường hợp tự xét thấy người chưa thành niên thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thì Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
5. Trong quá trình áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng, nếu vụ án có yêu cầu về bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có văn bản, kèm theo hồ sơ vụ án đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản.
6. Trường hợp Cơ quan điều tra đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định tại điểm c khoản 4 và khoản 5 Điều này thì Cơ quan điều tra phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
7. Việc áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng không làm chấm dứt các hoạt động tố tụng cần thiết để giải quyết vụ án.
Trường hợp vụ án hình sự đang áp dụng thủ tục rút gọn mà có người chưa thành niên thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và giải quyết vụ án theo quy định của Luật này và Bộ luật Tố tụng hình sự.
8. Khi ra thông báo không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này.
9. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết tại các khoản 4, 5 và 7 Điều này.
1. Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phải có các nội dung chính sau đây:
a) Số, ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên cơ quan ra quyết định;
c) Họ và tên của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử ra quyết định;
d) Họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, số định danh cá nhân, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa của người chưa thành niên;
đ) Họ và tên, nơi làm việc (nếu có) của người bào chữa;
e) Tội danh, điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được áp dụng;
g) Lý do, căn cứ ra quyết định;
h) Quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
Trường hợp áp dụng thì nêu tên biện pháp xử lý chuyển hướng, thời hạn áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, thời hạn thực hiện nghĩa vụ, đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan;
i) Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành quyết định;
k) Hiệu lực của quyết định;
l) Nơi nhận quyết định.
2. Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố.
Quyết định này có thể bị khiếu nại, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 151 của Luật này; có thể bị kiến nghị, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này và khoản 6 Điều 151 của Luật này.
3. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện như sau:
a) Giao quyết định cho người chưa thành niên là bị can, người đại diện của họ; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị hại; gửi cho Cơ quan điều tra cùng cấp trong trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định;
b) Gửi quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng và bản sao Báo cáo điều tra xã hội cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chưa thành niên cư trú;
c) Gửi quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại cho cơ quan thi hành án dân sự.
4. Trường hợp quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Cơ quan điều tra không có căn cứ, trái pháp luật thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, Viện kiểm sát giải quyết như sau và nêu rõ lý do:
a) Ra quyết định hủy quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của Luật này và Bộ luật Tố tụng hình sự;
b) Ra quyết định hủy quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và yêu cầu Cơ quan điều tra mở lại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định quy định tại điểm này, Cơ quan điều tra phải mở lại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;
c) Trường hợp hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố đã chuyển cho Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật này.
5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, Tòa án thực hiện như sau:
a) Giao quyết định cho người chưa thành niên là bị can, người đại diện của họ; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị hại; gửi cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (nếu có);
b) Gửi quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng và bản sao báo cáo điều tra xã hội cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chưa thành niên cư trú;
c) Trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã đề nghị trong trường hợp Tòa án không chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật này.
Trường hợp người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác thì không bị truy cứu về hành vi phạm tội đã bị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, người làm công tác xã hội phải xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng và gửi đến cơ quan đã yêu cầu.
2. Kế hoạch xử lý chuyển hướng phải có các nội dung chính sau đây:
a) Biện pháp xử lý chuyển hướng đề xuất áp dụng;
b) Thời gian, địa điểm thực hiện;
c) Quyền, nghĩa vụ của người chưa thành niên theo quy định tại Điều 23 của Luật này;
d) Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
3. Trường hợp cần thiết, người làm công tác xã hội đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án cung cấp thông tin hoặc tổ chức cuộc họp để xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng. Cuộc họp do người làm công tác xã hội chủ trì, có sự tham gia của người đại diện của người chưa thành niên là bị can và có thể có sự tham gia của người chưa thành niên là bị can, bị hại hoặc người đại diện của bị hại.
Trường hợp đề xuất áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tham gia chương trình học tập, dạy nghề, tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý đối với người chưa thành niên thì người làm công tác xã hội phải phối hợp, thống nhất với cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan để xác định cụ thể nội dung, chương trình học tập, học nghề, điều trị, tư vấn tâm lý phù hợp với người chưa thành niên.
4. Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người làm công tác xã hội xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng bổ sung trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
1. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được kế hoạch xử lý chuyển hướng hoặc kể từ ngày ra thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 55 của Luật này, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát hoặc Thẩm phán ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng.
2. Quyết định mở phiên họp phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định, tên cơ quan ra quyết định;
b) Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên họp trực tiếp hoặc trực tuyến;
c) Họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, số định danh cá nhân, nơi cư trú của người chưa thành niên là bị can;
d) Họ và tên, nơi cư trú của người đại diện của người chưa thành niên là bị can;
đ) Họ và tên của Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký phiên họp;
e) Họ và tên của Kiểm sát viên tham gia phiên họp trong trường hợp Cơ quan điều tra, Tòa án mở phiên họp;
g) Họ và tên, nơi làm việc (nếu có) của người bào chữa;
h) Họ và tên, nơi làm việc (nếu có) của người làm công tác xã hội;
i) Họ và tên người phiên dịch (nếu có);
k) Họ và tên những người khác được yêu cầu tham gia phiên họp (nếu có).
3. Thành phần tham gia phiên họp gồm:
a) Người tiến hành phiên họp: Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; Thẩm phán; Thư ký phiên họp;
b) Người tham gia phiên họp: Kiểm sát viên tham gia phiên họp trong trường hợp Cơ quan điều tra, Tòa án mở phiên họp; Điều tra viên trong trường hợp Viện kiểm sát mở phiên họp;
c) Người khác tham gia phiên họp: người chưa thành niên là bị can, người đại diện, người bào chữa của họ; người làm công tác xã hội; bị hại (nếu có);
d) Trường hợp cần thiết, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án yêu cầu người giám định, người phiên dịch, người dịch thuật, chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học, đại diện cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp nơi người chưa thành niên là bị can học tập, đại diện cơ quan, tổ chức nơi người chưa thành niên là bị can làm việc, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, các tổ chức thành viên của Mặt trận nơi người chưa thành niên cư trú và những người khác tham gia phiên họp.
4. Quyết định mở phiên họp phải được gửi cho những người quy định tại điểm c khoản 3 Điều này, Viện kiểm sát cùng cấp, Cơ quan điều tra trong trường hợp Viện kiểm sát mở phiên họp ngay sau khi ra quyết định. Phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng được tổ chức trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
1. Trước khi khai mạc phiên họp, Thư ký phiên họp kiểm tra sự có mặt của những người được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án yêu cầu tham gia phiên họp; nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do và báo cáo người chủ trì phiên họp để xem xét tiếp tục tiến hành phiên họp hoặc hoãn phiên họp.
2. Thủ tục phiên họp được tiến hành như sau:
a) Người chủ trì phiên họp khai mạc phiên họp;
b) Người làm công tác xã hội trình bày kế hoạch xử lý chuyển hướng;
c) Người chưa thành niên là bị can, người đại diện của họ trình bày ý kiến;
d) Người bào chữa trình bày ý kiến;
đ) Những người khác tham gia phiên họp trình bày ý kiến để làm rõ các vấn đề có liên quan;
e) Người chủ trì phiên họp điều hành việc hỏi để làm rõ các vấn đề có liên quan;
g) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến;
h) Người chủ trì phiên họp quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và công bố nội dung quyết định ngay tại phiên họp.
Nếu xét thấy người chưa thành niên thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc phát sinh yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có văn bản, kèm theo hồ sơ vụ án đề nghị Tòa án xem xét, quyết định.
Nếu xét thấy người chưa thành niên thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thì Thẩm phán ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
3. Phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng phải được tổ chức thân thiện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Việc hỏi người chưa thành niên phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính, khả năng nhận thức và mức độ trưởng thành của họ. Câu hỏi cần ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc. Người đại diện của người chưa thành niên có thể hỗ trợ họ tại phiên họp.
4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án xem xét hoãn phiên họp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế ngay được;
b) Người chưa thành niên là bị can, người đại diện của họ vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng.
5. Thời hạn hoãn phiên họp là không quá 05 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn. Quyết định hoãn phiên họp phải được thông báo ngay cho những người có mặt tại phiên họp; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại phiên họp trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
1. Biên bản phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên họp; thành phần tham gia phiên họp; nội dung, diễn biến phiên họp; quyết định của người chủ trì phiên họp.
2. Sau khi kết thúc phiên họp, người chủ trì phiên họp phải kiểm tra biên bản, cùng với Thư ký phiên họp ký vào biên bản.
1. Ngay sau khi nhận được văn bản đề nghị, kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 5 Điều 55 và điểm h khoản 2 Điều 60 của Luật này, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán giải quyết như sau:
a) Trường hợp hồ sơ vụ án đã có kế hoạch xử lý chuyển hướng thì ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trừ trường hợp phải yêu cầu bổ sung tài liệu;
b) Trường hợp hồ sơ vụ án chưa có kế hoạch xử lý chuyển hướng thì yêu cầu người làm công tác xã hội xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng theo quy định tại Điều 58 của Luật này. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được kế hoạch xử lý chuyển hướng, Thẩm phán ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng.
2. Trường hợp bị can đang bị tạm giam thì Chánh án, Phó Chánh án xem xét, quyết định việc tiếp tục tạm giam hoặc hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác theo quy định của Luật này và Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn là cho đến khi Tòa án công bố quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
3. Quyết định mở phiên họp, thành phần phiên họp, thời gian mở phiên họp, hoãn phiên họp, biên bản phiên họp và việc yêu cầu bổ sung tài liệu được thực hiện theo quy định tương ứng tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 64, Điều 65, khoản 4, khoản 5 Điều 66 và Điều 67 của Luật này.
4. Trước khi khai mạc phiên họp, Thư ký phiên họp phải kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án yêu cầu tham dự phiên họp; nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do và báo cáo Thẩm phán để xem xét tiếp tục tiến hành phiên họp hoặc hoãn phiên họp. Thủ tục phiên họp được tiến hành như sau:
a) Thẩm phán khai mạc phiên họp;
b) Đại diện cơ quan đề nghị trình bày nội dung đề nghị;
c) Người làm công tác xã hội trình bày kế hoạch xử lý chuyển hướng;
d) Người chưa thành niên là bị can, người đại diện, người bào chữa của họ trình bày ý kiến;
đ) Những người khác tham gia phiên họp trình bày ý kiến để làm rõ các vấn đề có liên quan;
e) Thẩm phán hỏi đại diện cơ quan đề nghị, người chưa thành niên là bị can, người đại diện của họ và những người khác tham gia phiên họp để làm rõ các vấn đề có liên quan;
g) Người chưa thành niên là bị can, người đại diện, người bào chữa của họ tranh luận các vấn đề có liên quan. Việc tranh luận được tiến hành theo sự điều hành của Thẩm phán. Người tham gia tranh luận có quyền đối đáp lại ý kiến của người khác. Thẩm phán không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho họ tranh luận, trình bày hết ý kiến; có quyền yêu cầu dừng những ý kiến không liên quan và ý kiến lặp lại;
h) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến;
i) Thẩm phán quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng hoặc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nếu xét thấy người chưa thành niên thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản và công bố nội dung quyết định ngay tại phiên họp.
Việc quyết định tạm giam đối với người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 66 của Luật này.
5. Phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng phải được tổ chức thân thiện theo quy định tại khoản 3 Điều 60 của Luật này.
6. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, Tòa án thực hiện như sau:
a) Giao quyết định cho người chưa thành niên là bị can, người đại diện của họ; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị hại, cơ quan đề nghị;
b) Gửi quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng và bản sao báo cáo điều tra xã hội cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chưa thành niên cư trú;
c) Gửi quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp với Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;
d) Gửi quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng và bản sao báo cáo điều tra xã hội cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chưa thành niên cư trú;
đ) Trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã đề nghị trong trường hợp không chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này.
1. Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng trong các trường hợp sau đây:
a) Theo đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát quy định tại điểm c khoản 4 Điều 55 và điểm h khoản 2 Điều 60 của Luật này;
b) Tòa án tự mình xét thấy người chưa thành niên thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quy định của Luật này.
2. Ngay sau khi nhận được văn bản đề nghị, kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán giải quyết.
3. Trường hợp bị can đang bị tạm giam thì Chánh án, Phó Chánh án xem xét, quyết định việc tiếp tục tạm giam hoặc hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác theo quy định của Luật này và Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn là cho đến khi Tòa án công bố quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Luật này hoặc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 63 của Luật này thì Thẩm phán phải ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Luật này.
2. Quyết định mở phiên họp phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định, tên Tòa án ra quyết định;
b) Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên họp trực tiếp hoặc trực tuyến;
c) Họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, số định danh cá nhân, nơi cư trú của người chưa thành niên là bị can;
d) Họ và tên, nơi cư trú của người đại diện của người chưa thành niên là bị can;
đ) Tên cơ quan đề nghị;
e) Họ và tên Thẩm phán, Thư ký phiên họp;
g) Họ và tên Kiểm sát viên tham gia phiên họp;
h) Họ và tên, nơi làm việc (nếu có) của người bào chữa;
i) Họ và tên, nơi làm việc (nếu có) của người làm công tác xã hội;
k) Họ và tên người phiên dịch (nếu có);
l) Họ và tên những người khác được yêu cầu tham gia phiên họp (nếu có).
3. Thành phần phiên họp gồm:
a) Người tiến hành phiên họp: Thẩm phán, Thư ký phiên họp;
b) Người tham gia phiên họp: đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên tham gia phiên họp;
c) Người khác tham gia phiên họp: người chưa thành niên là bị can, người đại diện, người bào chữa của họ; người làm công tác xã hội; bị hại (nếu có);
d) Trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định, người phiên dịch, người dịch thuật, chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học, đại diện cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp nơi người chưa thành niên học tập, đại diện cơ quan, tổ chức nơi người chưa thành niên làm việc, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, các tổ chức thành viên của Mặt trận nơi người chưa thành niên cư trú và những người khác tham gia phiên họp.
4. Quyết định mở phiên họp phải được gửi cho những người quy định tại điểm c khoản 3 Điều này, Cơ quan đề nghị và Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định. Phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được tổ chức trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
1. Thẩm phán yêu cầu Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát bổ sung tài liệu trong trường hợp hồ sơ vụ án có tài liệu chưa rõ hoặc có mâu thuẫn cần bổ sung, làm rõ.
2. Văn bản yêu cầu phải nêu rõ tài liệu cần bổ sung và lý do của việc yêu cầu bổ sung.
3. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án, cơ quan được yêu cầu phải gửi tài liệu bổ sung cho Tòa án. Trường hợp không bổ sung được tài liệu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
4. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được tài liệu bổ sung hoặc kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà cơ quan được yêu cầu không bổ sung được tài liệu, Thẩm phán ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
1. Trước khi khai mạc phiên họp, Thư ký phiên họp phải kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án yêu cầu tham dự phiên họp; nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do và báo cáo Thẩm phán để xem xét tiếp tục tiến hành phiên họp hoặc hoãn phiên họp.
2. Thủ tục phiên họp được tiến hành như sau:
a) Thẩm phán khai mạc phiên họp;
b) Đại diện cơ quan đề nghị trình bày nội dung đề nghị;
c) Người chưa thành niên là bị can, người đại diện, người bào chữa của họ trình bày ý kiến;
d) Người làm công tác xã hội tham gia phiên họp trình bày báo cáo điều tra xã hội;
đ) Những người khác tham gia phiên họp trình bày ý kiến để làm rõ các vấn đề có liên quan;
e) Thẩm phán hỏi đại diện cơ quan đề nghị, người chưa thành niên là bị can, người đại diện của họ và những người khác tham gia phiên họp để làm rõ các vấn đề có liên quan;
g) Người chưa thành niên là bị can, người đại diện, người bào chữa của họ tranh luận các vấn đề có liên quan với đại diện cơ quan đề nghị. Việc tranh luận được tiến hành theo sự điều hành của Thẩm phán. Người tham gia tranh luận có quyền đối đáp lại ý kiến của người khác. Thẩm phán không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho họ tranh luận, trình bày hết ý kiến; có quyền yêu cầu dừng những ý kiến không liên quan và ý kiến lặp lại;
h) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến;
i) Thẩm phán quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng và công bố nội dung quyết định ngay tại phiên họp.
3. Phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng phải được tổ chức thân thiện theo quy định tại khoản 3 Điều 60 của Luật này.
4. Tòa án xem xét hoãn phiên họp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đại diện cơ quan đề nghị vắng mặt;
b) Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế ngay được;
c) Người chưa thành niên là bị can, người đại diện của họ vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng.
5. Thời hạn hoãn phiên họp là không quá 05 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn. Quyết định hoãn phiên họp phải được thông báo ngay cho những người có mặt tại phiên họp; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại phiên họp trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
6. Thẩm phán quyết định tạm giam người chưa thành niên cho đến khi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bàn giao họ vào trường giáo dưỡng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người chưa thành niên đang bị tạm giam nhưng xét thấy cần tiếp tục tạm giam để bảo đảm thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
b) Người chưa thành niên không bị tạm giam nhưng có căn cứ cho thấy họ có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội.
1. Biên bản phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên họp; thành phần tham gia phiên họp; nội dung, diễn biến phiên họp; quyết định của Thẩm phán.
2. Sau khi kết thúc phiên họp, Thẩm phán phải kiểm tra biên bản, cùng với Thư ký phiên họp ký vào biên bản.
1. Trường hợp Tòa án không chấp nhận đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thì trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này.
2. Trường hợp Tòa án tự mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng mà người chưa thành niên là bị can không được áp dụng biện pháp này thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này.
1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng trái pháp luật thì thẩm quyền kiến nghị được thực hiện như sau:
a) Cơ quan điều tra tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng có quyền kiến nghị quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Viện kiểm sát, Tòa án;
b) Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Tòa án, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 151 của Luật này.
2. Bị can là người chưa thành niên, bị hại, người đại diện của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 05 ngày kể từ ngày công bố hoặc nhận được quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà người có quyền khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn khiếu nại.
1. Khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra do Thủ trưởng Cơ quan điều tra xem xét, giải quyết trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp xem xét, giải quyết trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
2. Khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét, giải quyết trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.
Khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.
Khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.
3. Khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Thẩm phán do Chánh án Tòa án xem xét, giải quyết trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.
Khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Thẩm phán giữ chức vụ Chánh án do Chánh án Tòa án trên một cấp xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.
1. Trong thời hạn quy định tại Điều 71 của Luật này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Chấp nhận khiếu nại, kiến nghị và hủy quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này;
b) Chấp nhận khiếu nại, kiến nghị và hủy quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền mở lại phiên họp xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị thì cơ quan, người có thẩm quyền phải mở lại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;
c) Không chấp nhận khiếu nại, kiến nghị và giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc quyết định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị phải gửi quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị cho người đã khiếu nại, kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng; người chưa thành niên và người đại diện của họ, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người phải chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cư trú trong trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị có hiệu lực pháp luật và là quyết định cuối cùng.
4. Trường hợp hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố đã chuyển cho Viện kiểm sát thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại khoản 1 Điều 71 của Luật này ra quyết định đình chỉ việc giải quyết khiếu nại.
Trường hợp hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đã chuyển cho Tòa án thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị quy định tại khoản 2 Điều 71 của Luật này ra quyết định đình chỉ việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
PROCEDURES FOR REVIEWING AND DECIDING ON APPLICATION OF DIVERSION MEASURES
Article 52. Authority to apply diversion measures
1. The heads, deputy heads of investigation authorities, directors, and deputy directors of the Procuracy shall have the authority to apply community-based diversion measures, except in cases where the case requires damage payment or asset seizure.
2. Judges, adjudication panels shall have the authority to apply diversion measures as stipulated in Article 36 of this Law
Article 53. Requesting social workers to participate in legal proceedings
1. Immediately after pressing charge against a juvenile suspect, the investigation authority must request social workers on the list specified in clause 5 of Article 32 of this Law to participate in the legal proceedings. If necessary, requests may be made directly, by phone, or through other electronic means but must be followed up with a written request.
2. Selection of social workers should follow the following priority order:
a) Officials, public employees, and workers who are social workers residing in the same commune-level administrative unit as the juvenile;
b) Officials, public employees, and workers who are social workers residing in the same district-level administrative unit as the juvenile;
c) Child protection social workers or cultural-social officials at the commune where the juvenile resides.
d) Other social workers as prescribed by law.
3. Within 01 day of receiving the investigation authority's request, social workers must respond in writing regarding their participation in the legal proceedings. If necessary, notifications can be made directly, by phone, or through other electronic means but must be followed up with a written response.
4. Within one day of the social worker confirming participation in the proceedings, the investigation authority must issue a written notification regarding participation in the legal proceedings and send it to them. This notification must include a request for the social worker to prepare a social investigation report on the juvenile suspect.
The notification of the social worker's participation in the legal proceedings is valid throughout the legal proceedings.
5. Social workers are considered participants in the legal proceedings from the moment they receive the notification about their participation.
Article 54. Formulating social investigation reports
1. Within one day of the social worker confirming participation in the proceedings, the investigation authority must issue a written notification regarding participation in the legal proceedings and send it to them.
2. Social investigation reports must include:
a) Full name, date of birth, gender, personal identification number, place of residence of the juvenile;
b) Full name, place of residence of the representative of the juvenile;
c) Full name, place of work (if any) of the social worker;
d) Family relationships, living conditions of the juvenile;
dd) Maturity level of the juvenile;
e) Health history of the juvenile;
g) Learning, educational level and occupation of the juvenile;
h) Factors that may be the cause of juvenile delinquency;
i) Places and individuals that may lead the juvenile to commit new offenses (if any);
k) Proposal for application of Diversion measures (if any).
3. Relevant agencies, organizations and individuals shall provide information about juvenile suspects when requested by social workers.
4. At the request of the presiding authorities, social workers shall formulate supplementary social investigation reports during the investigation, prosecution, and adjudication.
Article 55. Consideration for application of diversion measures
1. Within 15 days from the date the investigation authority receives the social investigation report; within 7 days from the date the Procuracy receives the case file and the conclusion of investigation for charges, and the Court receives the case file and the charge, the heads, deputy heads of the investigation authority, heads and vice heads of The Procuracy, or judges must base issue a notification on applying or not applying the diversion procedure in accordance with regulations of Articles 35, 37, 38, and 39 of this Law.
2. Notification on applying or not applying the diversion procedure shall include:
a) Number, date of issuance of the notification;
b) Name of the issuing agency;
c) Full name of the heads, deputy heads of the investigation authority, heads and vice heads of The Procuracy, or judges issuing the notification;
d) Full name, date of birth, gender, personal identification number, place of residence, occupation, educational level of the juvenile suspects;
dd) Full name, place of work (if any) of the defense counsel;
e) Reasons, grounds for issuing the notification;
g) Application or non-application of the diversion procedure;
h) Recipient of the notification.
3. The notification on applying or not applying the diversion procedure shall be sent to the juvenile suspect, his/her representative, defense counsel, social worker and the Procuracy at the same level within 3 days of issuance.
4. Immediately after issuance of the notification, the investigation authority, Procuracy, or Court shall:
a) If the juvenile is found eligible for the community-based diversion measure, issue a written request to the social worker to formulate a diversion plan, except in cases specified in point b of this clause.
The request must include information on the nature and severity of the juvenile's crime and other necessary details for formulation of the diversion plan.
b) If the juvenile is found eligible for the community-based diversion measure with an existing diversion plan in the case file, the Procuracy or Court shall convene a meeting as stipulated in Article 59 of this Law if it deems unnecessary to amend or create a new diversion plan;
c) If the juvenile is deemed eligible for application of educational measures at reformatory, the Investigation authority or Procuracy shall submit a written request, along with the case file, to the Court for review and decision on applying educational measure at reformatory.
If the juvenile is deemed eligible for application of educational measure at reformatory, the Court shall review and decide the application of educational measure at reformatory.
5. During the diversion procedure, if payment of damage or asset seizure is required, the Investigation authority or Procuracy shall submit a written request, along with the case file, to the Court for review and decision on applying the diversion procedure and resolving issues regarding damage payment or asset seizure.
6. If the Investigation authority requests the Court to consider and decide the application of the diversion procedure according to the provisions in point c of clause 4 and clause 5 of this Article, the Investigation authority must notify the Procuracy of the corresponding level immediately.
7. The application of the diversion procedure does not terminate the necessary procedural activities to resolve the case
In cases where criminal proceedings are being simplified and a juvenile is found eligible for the diversion procedure, the Investigation authority, Procuracy, or Court shall decide to cancel the simplified procedure and resolve the case in accordance with this Law and the Criminal Procedure Code.
8. When issuing a notification on not applying Diversion procedure, the Investigation authority, the Procuracy, and the Court shall continue to resolve the case in accordance with the Criminal Procedure Code and this Law.
9. The Head of the Supreme People’s Procuracy shall take charge and cooperate with the Chief Justice of the Supreme People's Court, the Minister of Public Security, and the Minister of National Defense, shall elaborate points 4, 5, and 7 of this Article.
Article 56. Decision on applying Diversion measures
1. Decision on applying Diversion measures must include:
a) Number, date of issuance of the decision;
b) Name of the issuing agency;
c) Full name of the heads, deputy heads of the Investigation authority, the Director, Deputy Director of the Procuracy, Judge or Adjudication Council that issue the decision;
d) Full name, date of birth, gender, personal identification number, place of residence, occupation, educational level of the juvenile;
dd) Full name, place of work (if any) of the defense counsel;
e) Crime, article, clause, and point of the Criminal Code applied;
g) Reasons, grounds for issuing the decision;
h) Decision on applying or not applying Diversion measures.
The name of the diversion measure that apply, the duration of application, the duration of fulfilling obligations, suspending the investigation of the case against the suspect, or suspending the case against the suspect subject to the diversion measure, and the cancellation of preventive measures, coercive measures, return of temporarily seized documents or objects (if any), handling of evidence, and other related issues must be clearly stated.
i) Responsibilities of agencies, organizations, individuals enforcing the decision;
k) Effect of the decision
l) Recipient of the decision.
2. The decision on applying Diversion measures shall come into force on the date of publication.
This decision may be appealed, except in cases specified in clause 6 of Article 151 of this Law; or be petitioned, except in cases specified in Article 4 of this Law and clause 6 of Article 151 of this Law.
3. Within 5 days from the date of publication the decision on applying or not applying the community-based diversion measure, the Investigation authority, Procuracy, and Court shall take the following actions:
a) Deliver the decision to the juvenile suspect, their legal representative; send it to the Procuracy of the corresponding level, the victim; send it to the corresponding level of the investigation authority in cases where the Procuracy makes the decision;
b) Send the decision on applying the community-based diversion measure and a copy of the social investigation report to the People's Committee at the commune where the juvenile resides;
c) Send the decision on applying the diversion measure of paying damages to the civil judgment-enforcing agencies.
4. If the decision on applying or not applying the community-based diversion measure of the Investigation authority is unfounded or unlawful, within 5 days from receiving the decision, the Procuracy shall resolve as follows and provide clear reasons:
a) Make a decision to annul that decision and request the investigation authority to continue resolving the case in accordance with this Law and the Criminal Procedure Code;
b) Make a decision to annul the decision on not applying/applying the community-based diversion measure and request the investigation authority to reconvene to review and decide the application of the community-based diversion measure, except in cases specified in point c of this clause.
Within 5 days from receiving the decision specified in this point, the investigation authority must reconvene to review and decide the application of the community-based diversion measure;
c) In cases where the case file and the conclusion of the investigation for charges have already been transferred to the Procuracy, the Procuracy shall review and decide the application of the community-based diversion measure in accordance with this Law.
5. Within 5 days from the date of publication the decision on applying or not applying the educational measure at reformatory, the Court shall take the following actions:
a) Deliver the decision to the juvenile suspect, their legal representative; send it to the Procuracy of the corresponding level, the victim; send it to the agency requesting the application of the educational measure at reformatory (if any);
b) Send the decision on applying the educational measure at reformatory and a copy of the social investigation report to the criminal judgment enforcement agency of a district-level Police where the juvenile resides;
c) Return the case file to the investigation authority, Procuracy that made the request in cases where the Court does not accept the request to apply the educational measure at reformatory as stipulated in clause 1 of Article 68 of this Law.
Article 57. Handling of cases where person serving diversion measure commit another crime
In cases where individuals under diversion measures are prosecuted for other crimes, they shall not be prosecuted for the crime for which the diversion measure is applied.
Section 2. PROCEDURES FOR REVIEWING AND DECIDING ON APPLICATION OF COMMUNITY-BASED DIVERSION MEASURES
Article 58. Formulating diversion plans
1. Within 07 day of receiving the investigation authority's request, Procuracy, Court, social workers must formulate diversion plan and send it to the requesting agency.
2. The Diversion plan must include:
a) The proposed Diversion measures;
b) Duration and place of implementation;
c) Rights and obligations of juveniles in accordance with Article 23 of this Law;
d) Responsibilities of the relevant agencies, organizations, individuals in enforcement of the decision on applying the diversion measure.
3. When necessary, the social worker may request the agency handling the current case to provide information or organize a meeting to formulate the diversion plan. The meeting, chaired by the social worker, must involve the representative of the juvenile suspect, and may include the juvenile suspect, victim or their legal representative.
If the proposed diversion measure involves participation in educational programs, vocational training, treatment, or psychological counseling for the juvenile, the social worker must cooperate with educational institutions, vocational education institutions, medical establishments, or other relevant organizations or individuals to specify the content, educational programs, vocational training, treatment, or psychological counseling suitable for the juvenile.
4. At the request of the presiding authorities, social workers shall formulate supplementary diversion plan during the investigation, prosecution, and adjudication.
Article 59. Decision for convening a meeting to review and decide the application of the community-based diversion measure
1. Within 3 days from the date receiving the diversion plan or from the date of issuance of notification on applying the diversion procedure if falling under the cases specified in point b of clause 4 of Article 55 of this Law, the Head, Deputy Head of the investigation authority, Director, Deputy Director of the Procuracy, or Judge shall make a decision on convening a meeting to review and decide the application of the community-based diversion measure.
2. Decision on convening a meeting must include:
a) Date of issuance, name of the issuing agency;
b) Date, place of the offline/online meeting;
c) Full name, date of birth, gender, personal identification number, place of residence of the juvenile suspect;
d) Full name, place of residence of the representative of the juvenile suspect;
dd) Full name of the heads, deputy heads of the investigation authority, heads and vice heads of the Procuracy, or Judge presiding over the meeting; Meeting clerk;
e) Full name of procurators participating in the meeting convened by the Investigation authority, Court;
g) Full name, place of work (if any) of the defense counsel;
h) Full name, place of work (if any) of the social worker;
i) Full name of the interpretation (if any);
k) Full name of other people required to participate in the meeting (if any).
3. Participants in the meeting include:
a) Meeting conductors: Head or Deputy Head of the investigation authority; Head and Deputy Head of the Procuracy; Judge; Meeting clerk;
b) Meeting attendees: Prosecutors participating in the meeting convened by the Investigation authority, Court; Investigators participating in the meeting convened by the Procuracy;
c) Others: the juvenile suspect, their legal representative, defense counsel; social worker; victim (if any);
d) When necessary, the Investigation authority, Procuracy, Court may request experts such as appraisers, interpreters, translators, medical, psychological, educational, social work experts, representatives of educational institutions, vocational education institutions where the juvenile suspect studies, representatives of agencies and organizations where the juvenile suspect works, representatives of the Vietnam Fatherland Front Committee at the commune level, member organizations of the Front where the juvenile suspect resides, and other people to attend the meeting.
4. The decision on convening the meeting must be sent to the individuals specified in point c of clause 3 of this Article, the Procuracy of the corresponding level, the Investigation authority in cases where the Procuracy convenes the meeting immediately after the decision is issued. The meeting to review and decide the application of the community-based diversion measure must be organized within 5 days from the date of issuing the decision to convene the meeting.
Article 60. Meeting to review and decide the application of the community-based diversion measure
1. Before the meeting begins, the meeting clerk shall check the presence of those requested by the Investigation authority, Procuracy, or Court to participate in the meeting; if someone is absent, the reason must be clarified and reported to the meeting chairperson for a decision on whether to proceed or postpone the meeting.
2. The meeting procedure is conducted as follows:
a) The meeting chairperson shall open the meeting;
b) The social worker shall present the Diversion plan;
c) The juvenile suspect and their representative shall present their opinions;
d) The defense counsel shall present their opinions;
dd) Other participants shall present their opinions to clarify relevant issues;
e) The meeting chairperson shall ask questions to clarify relevant issues;
g) The prosecutor shall express their opinions;
h) The chairperson shall decide whether to apply or not apply the diversion measure and announce the decision content immediately at the meeting.
If the juvenile is deemed eligible for application of educational measures at reformatory or if there are requests to address issues regarding damage payment or asset seizure, the Investigation authority or Procuracy shall submit a written request, along with the case file, to the Court for review and decision on applying educational measures at reformatory.
If the juvenile is deemed eligible for application of educational measure at reformatory, the Judge shall review and decide the application of educational measure at reformatory.
3. Meetings to review and decide the application of the community-based diversion measure must be juvenile-friendly, ensure lawful rights and obligations of juveniles. Questions for juveniles must be age-appropriate and gender-sensitive and consider their cognitive abilities and maturity level. Questions should be brief, simple, and easy to understand, and not cover multiple issues at once. The legal representative of the juvenile can assist them during the meeting.
4. The Investigation authority, Procuracy, Court may postpone the meeting in the following cases:
a) The interpreter is absent, and there is no immediate replacement available;
b) The juvenile suspect or their representative is absent for the first time with a valid reason.
5. The meeting must not be postponed for more than 05 days from the date of issuance of the postponement decision. The postponement decision must be promptly sent to those present at the meeting; sent to the Procuracy of the corresponding level and the absent individuals within 3 days from the date of issuance.
Article 61. Minute of meeting to review and decide the application of the community-based diversion measure
1. The minutes of the meeting to review and decide the application of the community-based diversion measure must clearly record the date and location of the meeting; participants in the meeting; the content and proceedings of the meeting; the decision of the meeting chairperson.
2. After the meeting, the chairperson must review the minutes, and together with the clerk, sign the minutes.
Article 62. Procedures of the court for reviewing and deciding application of community-based Diversion measures at the request of the Investigation authority, the Procuracy
1. Immediately upon receiving the request, along with the case file from the Investigation authority, the Procuracy as stipulated in clause 5 of Article 55 and point h of clause 2 of Article 60 of this Law, the Chief Justice of the Court must assign a Judge to handle the case. Within 3 days from the assignment date, the Judge shall take the following actions:
a) If there is already a diversion plan in the case file, the Judge will make a decision to convene a meeting to review and decide the application of the community-based diversion measure, except when additional documents are needed;
b) If there is no diversion plan in the case file, the Judge will request the social worker to formulate a diversion plan in accordance with Article 58 of this Law. Within 3 days from the date receiving the diversion plan, the Judge will make a decision on convening a meeting to review and decide the application of the community-based diversion measure.
2. If the suspect is held in detention, the Chief Justice, Deputy Chief Justice will review and decide whether to continue with the detention or replace it with other preventive measures in accordance with this Law and the Criminal Procedure Code.
Preventive measure will apply until the Court discloses a decision on the application of the diversion measure.
3. The decision on convening a meeting, meeting participants, meeting opening time, meeting postponement, meeting minutes, and request for additional documents will comply with the corresponding regulations in Clauses 2, 3 and 4 of Article 64, Article 65, Clauses 4 and 5 of Article 66 and Article 67 of this Law.
4. Before the meeting begins, the meeting clerk shall check the presence of those requested by the Court to participate in the meeting; if someone is absent, the reason must be clarified and reported to the Judge for a decision on whether to proceed or postpone the meeting. The meeting procedure is conducted as follows:
a) The Judge shall open the meeting;
b) The representative of the requesting agency shall present the request;
c) The social worker shall present the Diversion plan;
d) The juvenile suspect, their representative, defense counsel shall present their opinions;
dd) Other participants shall present their opinions to clarify relevant issues;
e) e) The judge shall question the representative of the requesting agency, the juvenile suspect, their representative and other people attending the meeting to clarify relevant issues;
g) The juvenile suspect, their legal representative, and their defense counsel shall debate about relevant issues. The debate is conducted under the Judge's guidance. Participants have the right to respond to each other's opinions. The Judge must not limit the debate time, allowing participants to present their arguments fully; the Judge may request others to refrain from presenting irrelevant or repetitive arguments;
h) The prosecutor shall express their opinion;
i) The Judge shall decide whether to apply or not apply the community-based diversion measure or decide the application of the educational measure at reformatory if the juvenile is deemed eligible for educational measure at reformatory; resolve the issue of damage payment or asset seizure; and publish the content of the decision immediately at the meeting.
The decision on detention for the juvenile subject to the educational measure at reformatory shall comply with clause 6 of Article 66 of this Law.
5. Meetings to review and decide the application of the community-based diversion measure must be conducted in a friendly manner as stipulated in clause 3 of Article 60 of this Law.
6. Within 5 days from the date of announcing the decision on applying/not applying the diversion measure, the Court shall take the following actions:
a) Deliver the decision to the juvenile suspect, their legal representative; send it to the Procuracy of the corresponding level, the victim, the requesting agency;
b) Send the decision on applying the community-based diversion measure and a copy of the social investigation report to the People's Committee at the commune where the juvenile resides;
c) Send the to the civil judgment-enforcing agency at the same level as the Court that issued the decision;
d) Send the decision on applying the educational measure at reformatory and a copy of the social investigation report to the criminal judgment enforcement agency of a district-level Police where the juvenile resides;
e) Return the case file to the Investigation authority, the Procuracy that made the request in cases of refusal for further case resolution in accordance with Criminal Procedure Code and this Law.
Section 3. Procedures for reviewing, deciding the application of educational measures at reformatory
Article 63. Procedures for reviewing, deciding the application of educational measures at reformatory
1. The Court shall review and decide to apply the educational measure at reformatory in the following cases:
a) Upon requested by the Investigation authority or the Procuracy as specified in point c of clause 4 of Article 55 and point h of clause 2 of Article 60 of this Law;
b) If the juvenile is deemed eligible for application of educational measure at reformatory by the Court in accordance with this Law.
2. Immediately upon receiving the request, along with the case file from the Investigation authority, the Procuracy as stipulated in point a of clause 1 of this Article 55, the Chief Justice of the Court must assign a Judge to handle the case.
3. If the suspect is held in detention, the Chief Justice, Deputy Chief Justice will review and decide whether to continue with the detention or replace it with other preventive measures in accordance with this Law and the Criminal Procedure Code.
Preventive measure will apply until the Court public a decision on the application of the educational measure at reformatory.
Article 64. Decision on convening a meeting for reviewing, deciding the application of educational measures at reformatory
1. Within 7 days from the date of assignment in accordance with clause 2 of Article 63 of this Law, or during the adjudication preparation phase as specified in point b of clause 1 of Article 63 of this Law, the Judge must make a decision to convene a meeting to review and decide the application of the educational measure at the reformatory, except as provided in Article 65 of this Law.
2. Decision on convening a meeting must include:
a) Date of issuance, name of the issuing Court;
b) Date, place of the offline/online meeting;
c) Full name, date of birth, gender, personal identification number, place of residence of the juvenile suspect;
d) Full name, place of residence of the representative of the juvenile suspect;
dd) Name of the requesting agency;
e) Full name of the Judge, meeting clerk;
g) Full name of the procurator participating in the meeting;
h) Full name, place of work (if any) of the defense counsel;
i) Full name, place of work (if any) of the social worker;
k) Full name of the interpretation (if any);
l) Full name of other people required to participate in the meeting (if any).
3. Meeting participants include:
a) Meeting conductors: Judge; Meeting clerk;
b) Meeting attendees: representative of the requesting agency, Prosecutor participating in the meeting;
c) Others: the juvenile suspect, their legal representative, defense counsel; social worker; victim (if any);
d) When necessary, the Investigation authority, Procuracy, Court may request experts such as appraisers, interpreters, translators, medical, psychological, educational, social work experts, representatives of educational institutions, vocational education institutions where the juvenile suspect studies, representatives of agencies and organizations where the juvenile suspect works, representatives of the Vietnam Fatherland Front Committee at the commune level, member organizations of the Front where the juvenile suspect resides, and other people to attend the meeting.
4. The decision on convening the meeting must be sent to the individuals specified in point c of clause 3 of this Article, the requesting agency, and the Procuracy of the corresponding level immediately after the decision is issued. The meeting to review and decide the application of the educational measure at reformatory must be organized within 5 days from the date of issuing the decision to convene the meeting.
Article 65. Request for additional documentation
1. The Judge shall request the Investigation authority, Procuracy to provide additional documentation in cases where the case file is unclear or contradictory and requires clarification.
2. The request must specify the documents needing supplementation and the reason for the request.
3. Within 5 days from the date of receiving the Court's request, the requested agency must send the supplemental documents to the Court. If the documents cannot be provided, a written response must be given, stating the reasons.
4. Within 5 days from the date of receiving the supplemental documents or from the expiration of the deadline as prescribed in clause 3 of this Article, if the requested agency fails to provide the documents, the Judge will issue a decision to convene a meeting to review and decide the application of the educational measure at reformatory.
Article 66. Meeting for reviewing, deciding the application of educational measures at reformatory
1. Before the meeting begins, the meeting clerk shall check the presence of those requested by the Court to participate in the meeting; if someone is absent, the reason must be clarified and reported to the Judge for a decision on whether to proceed or postpone the meeting.
2. The meeting procedure is conducted as follows:
a) The Judge shall open the meeting;
b) The representative of the requesting agency shall present the request;
C) The juvenile suspect, their representative, defense counsel shall present their opinions;
d) The social worker participates in the meeting shall present the social investigation report;
dd) Other participants shall present their opinions to clarify relevant issues;
e) The judge shall question the representative of the requesting agency, the juvenile suspect, their representative and other people attending the meeting to clarify relevant issues;
g) The juvenile suspect, their legal representative, and their defense counsel shall debate about relevant issues with the representative of the requesting agency. The debate shall be conducted under the Judge's guidance. Participants have the right to respond to each other's opinions. The Judge must not limit the debate time, allowing participants to present their arguments fully; the Judge may request others to refrain from presenting irrelevant or repetitive arguments;
h) The prosecutor shall express their opinion;
i) The Judge shall decide whether to apply or not apply the educational measure at reformatory and announce the decision content immediately at the meeting.
3. Meetings to review and decide the application of the educational measure at reformatory must be conducted in a friendly manner as stipulated in clause 3 of Article 60 of this Law.
4. The Court may postpone the meeting in the following cases:
a) The representative of the requesting agency is absent;
b) The interpreter is absent, and there is no immediate replacement available;
c) The juvenile suspect or their representative is absent for the first time with a valid reason.
5. The meeting must not be postponed for more than 05 days from the date of issuance of the postponement decision. The postponement decision must be promptly sent to those present at the meeting; sent to the Procuracy of the corresponding level and the absent individuals within 3 days from the date of issuance.
6. The Judge shall decide to hold the juvenile in detention until the district-level criminal judgment enforcement agency of a district-level police hands them over to the reformatory if:
a) The juvenile is currently detained but it is deemed necessary to continue with the detention to ensure the implementation of the educational measure at reformatory;
b) The juvenile is not held in detention, but there are grounds to believe they may flee or commit further offenses.
Article 67. Minute of meeting for reviewing, deciding the application of educational measures at reformatory
1. The minutes of the meeting to review and decide the application of the educational measures at reformatory must clearly record the date and location of the meeting; participants in the meeting; the content and proceedings of the meeting; the decision of the Judge.
2. After the meeting, the Judge must review the minutes, and together with the Clerk, sign the minutes.
Article 68. Handling of cases where the Court does not apply the educational measure at reformatory
1. If the Court does not accept the request from the Investigation authority, Procuracy to apply the educational measure at reformatory, the Court shall return the case file to the Investigation authority, Procuracy to continue resolving the case as per the provisions of the Criminal Procedure Code and this Law.
2. If the Court convenes a meeting to review and decide the application of the educational measure at reformatory but decides not to apply this measure to the juvenile suspect, the Court will proceed to resolve the case in accordance with the Criminal Procedure Code and this Law.
Section 4. COMPLAINT AND PETITION AGAINST DECISION ON APPLYING DIVERSION MEASURES
Article 69. Persons with rights to file complaints and petitions against decisions on applying diversion measures
1. When there are grounds to believe that the decision on applying diversion is against the law, the rights to file petitions shall be exercised as follows:
a) The Investigation authority participating in the meeting to review and decide the application of diversion measures has the right to file a petition against decision on applying/not applying diversion measures of the Procuracy, Court;
b) The Procuracy at the same level has the right to file a petition against decision on applying/not applying diversion measures of the Court, except as prescribed in clause 6 of Article 151 of this Law.
2. Suspects who are juveniles, victims, their legal representatives have the right to complain about the decision on applying/not applying diversion measures if there are grounds that the decision is against the law, infringing on their lawful rights and interests.
Article 70. Time limit for complaints and petitions
The time limit for filing a complaint and petition is 5 days from the date of publication or receipt of the decision on applying/not applying diversion measures.
In cases of force majeure or objective obstacles preventing the exercise of the right to file a complaint within the specified time limit, the time period due to such force majeure or objective obstacles shall not be included in the complaint deadline.
Article 71. Authority and time limit for resolving complaints and petitions
1. Complaints against decisions on applying/not applying diversion measures made by the Deputy Head of the Investigation authority are reviewed and resolved by the Head of Investigation authority within 3 days from the date of receiving the complaints.
Complaints against decisions on applying/not applying diversion measures made by the Deputy Head of the Investigation authority are reviewed and resolved by the Chief Procurator of the Procuracy within 3 days from the date of receiving the complaints.
2. Complaints, petitions against decisions on applying/not applying diversion measures made by the Deputy Chief Procurator of the Procuracy are reviewed and resolved by the Chief Procurator of the Procuracy within 3 days from the date of receiving the complaints, petitions.
Complaints, petitions against decisions on applying/not applying diversion measures made by the Chief Procurator of the Procuracy are reviewed and resolved by the Head of the immediate superior Procuracy within 05 days from the date of receiving the complaints, petitions.
Complaints, petitions against decisions on applying/not applying diversion measures made by the Deputy Head of the provincial Procuracy are reviewed and resolved by the Head of the Supreme People’s Procuracy within 10 days from the date of receiving the complaints, petitions.
3. Complaints, petitions against decisions on applying/not applying diversion measures made by the Judge are reviewed and resolved by the Procurator General of the Supreme People’s Procuracy within 03 days from the date of receiving the complaints, petitions.
Complaints, petitions against decisions on applying/not applying diversion measures made by the Judge who is currently the Chief Justice are reviewed and resolved by the Chief Justice of the immediate superior Court within 07 days from the date of receiving the complaints, petitions.
Article 72. Resolving complaints and petitions
1. Within the time limit prescribed in Article 71 of this Law, the person with authority to resolve complaints and petitions must make one of the following decisions:
a) Accepting the complaint or petition and cancelling the decision on applying diversion measures to continue resolving the case in accordance with the Criminal Procedure Code and this Law;
b) Accepting the complaint or petition and cancelling the decision on not applying/applying diversion measures and requesting the competent authority or person to reopen the meeting to review and decide the application of diversion measures.
Within 5 days from the date of receiving the decision to resolve the complaint or petition, the competent authority, person must reopen the meeting to review and decide the application of diversion measures;
c) Rejecting the complaint, petition and keeping the applicable decision on applying/not applying diversion measures.
2. Within 3 days from the date of issuance of the decision, the person with authority to resolve complaints and petitions must send the decision to resolve the complaint or petition to the person who filed it, the Procuracy of the same level, the juvenile and their legal representative, and the criminal judgment enforcement agency of a district-level police where the juvenile is residing in cases specified in points a and b of clause 1 of this Article.
3. The decision to resolve the complaint or petition is legally effective and final.
4. If the case file and the conclusion of the investigation for charges have been transferred to the Procuracy, the person with authority to resolve complaints as stipulated in clause 1 of Article 71 of this Law shall make a decision to suspend the settlement of the complaint.
If the case file and the charge have been transferred to the Procuracy, the person with authority to resolve complaints and petitions as stipulated in clause 2 of Article 71 of this Law shall make a decision to suspend the settlement of the complaint, petition.
Cập nhật
Bài viết liên quan
Tội giết người được là loại tội phạm gì theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người được là loại tội phạm gì theo BLHS mới nhất 2025?
Trong Bộ luật Hình sự năm 2025, tội giết người tiếp tục được xác định là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng con người – nhóm quyền cơ bản và tối thượng nhất được pháp luật bảo vệ. Với bản chất là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác, tội danh này không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng về mặt nhân thân mà còn làm mất an ninh trật tự xã hội. Vậy, theo phân loại của pháp luật hình sự hiện hành, tội giết người được xếp vào loại tội phạm nào? Bài viết sau sẽ phân tích căn cứ pháp lý và cơ sở phân loại tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2025 để làm rõ vấn đề này. 16/06/2025Thế nào là lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo BLHS mới nhất 2025?
Thế nào là lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo BLHS mới nhất 2025?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Một trong những yếu tố quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự trong tội danh này là lỗi của người phạm tội, bao gồm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi cố ý gián tiếp xảy ra khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra . Bài viết này sẽ phân tích chi tiết khái niệm lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người theo quy định mới nhất của Bộ luật Hình sự năm 2025, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về cách áp dụng pháp luật trong thực tiễn. 16/06/2025Tội giết người vượt quá phòng vệ chính đáng mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người vượt quá phòng vệ chính đáng mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, phòng vệ chính đáng là quyền hợp pháp nhằm bảo vệ bản thân hoặc người khác khỏi hành vi xâm hại. Tuy nhiên, khi hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn cần thiết, gây hậu quả nghiêm trọng như tước đoạt tính mạng người khác, người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Hình sự, hành vi giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội có thể bị xử lý với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm; nếu phạm tội đối với 2 người trở lên, mức phạt tù từ 2 năm đến 5 năm . Bài viết này sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật liên quan và mức hình phạt áp dụng trong trường hợp này theo quy định mới nhất năm 2025. 16/06/2025Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mức xử lý hình sự mới nhất 2025 ra sao?
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mức xử lý hình sự mới nhất 2025 ra sao?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt". Vậy, hành vi giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người chưa đạt theo quy định hiện hành. 16/06/2025Tội giết người không thành có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người không thành có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người được xem là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt" hoặc "giết người không thành". Vậy, hành vi giết người không thành có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người không thành theo quy định hiện hành. 16/06/2025Tội giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt". Vậy, hành vi giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người chưa đạt theo quy định hiện hành. 16/06/20254 yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS mới nhất 2025
4 yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS mới nhất 2025
Dưới ánh sáng của Bộ luật Hình sự năm 2025 – phiên bản mới nhất phản ánh sự thay đổi và hoàn thiện của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam – tội giết người tiếp tục được quy định là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống – quyền cơ bản nhất của con người. Để xác định một hành vi có cấu thành tội giết người hay không, cần phải phân tích đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Bài viết này sẽ trình bày bốn yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS 2025, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về căn cứ pháp lý và cách áp dụng trong thực tiễn tố tụng hình sự. 16/06/2025Tội giết người Khoản 2 mức phạt cao nhất 15 năm tù theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người Khoản 2 mức phạt cao nhất 15 năm tù theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, vẫn đang được áp dụng tính đến năm 2025. Theo đó, Khoản 2 của điều luật này quy định mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm đối với các hành vi giết người không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1, tức là không có các tình tiết tăng nặng như giết nhiều người, giết người dưới 16 tuổi, giết phụ nữ có thai, giết người đang thi hành công vụ, hoặc vì động cơ đê hèn. Việc áp dụng hình phạt cụ thể trong khung hình phạt này phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành về tội giết người theo Khoản 2 Điều 123, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt trong thực tiễn xét xử. 16/06/2025Tội giết người Khoản 1 mức phạt cao nhất tử hình theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người Khoản 1 mức phạt cao nhất tử hình theo BLHS mới nhất 2025?
Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và vẫn đang được áp dụng tính đến năm 2025. Theo đó, Khoản 1 của điều luật này quy định mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với các hành vi giết người có tính chất đặc biệt nghiêm trọng như. giết từ hai người trở lên, giết người dưới 16 tuổi, giết phụ nữ mà biết là có thai, giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân, giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình, hoặc vì động cơ đê hèn. Việc áp dụng hình phạt cụ thể trong khung hình phạt này phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành về tội giết người theo Khoản 1 Điều 123, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt trong thực tiễn xét xử. 16/06/2025Tội giết người xử lý hình sự ra sao theo BLHS mới nhất 2025?
