Đọc hiểu Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm) (có đáp án)

Bài Đọc hiểu Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm) gồm câu hỏi đọc hiểu và câu hỏi viết có đáp án chi tiết giúp bạn ôn luyện và học tập hiệu quả Ngữ Văn 9.

1 200 26/05/2026


Đọc hiểu Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm) (có đáp án)

I. Đọc hiểu Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

ĐẤT NƯỚC

(Nguyễn Khoa Điềm)

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa...” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó...

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

Thời gian đằng đẵng

Không gian mênh mông

Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Hằng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng mình hài hoà nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất nước vẹn tròn, to lớn

Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang đất nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời...

*

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên.

Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta...

Em ơi em

Hãy nhìn rất xa

Vào bốn ngàn năm Đất Nước

Năm tháng nào cũng người người lớp lớp

Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

Cần cù làm lụng

Khi có giặc người con trai ra trận

Người con gái trở về nuôi cái cùng con

Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

Nhiều người đã trở thành anh hùng

Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ

Những em biết không

Có biết bao người con gái, con trai

Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân

Họ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái trái

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh bại

Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân

Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại

Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”

Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội

Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

Đi trả thù mà không sợ dài lâu

Ôi những dòng sông bắt nước từ lâu

Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát

Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi

Người dạy ta nghèo ăn cháo ăn rau

Biết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡi

Cái cuốc, con dao, đánh lừa cái tuổi

Chén rượu đánh lừa cơn mỏi, cơn đau

Con nộm nang tre đánh lừa cái chết

Đánh lừa cái rét là ăn miếng trầu

Đánh lừa thuồng luồng xăm mình xăm mặt

Đánh lừa thằng giặc là chuyện Trạng Quỳnh

Nhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minh

Không hề lừa ta dù ca dao, cổ tích

Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật

Biết bao nhiêu hành phúc có trên đời

Dẫu phải khi cay đắng dập vùi

Rằng co Tấm cũng làm về hoàng hậu

Cây khế chua có đại bàng đến đậu

Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta

Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa

Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa

Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa

Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào

Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!...

*

Ta lớn lên khao khát những chân trời

Những mảnh đất chân mình chưa bén được

Những biển khới chứa mặt trời đỏ rực

Những ngàn sao trôi miết giữa màu xanh

Ôi có cách gì ta được ngắm những bình minh

Buổi vũ trụ chớp bùng nên sự sống

Và ánh sáng trên chiếc xe vàng chuyển động

Bỗng một ngày ấm áp kể ta nghe

Về những con ngươi của thiên thể xa xôi

Muốn bầu bạn với con người Trái đất

Ôi phút đó ta vùng lên ngây ngất

Muốn ôm choàng hết tất cả trời mây

Trái tim tay nặng trĩu những mê say

Sẽ gieo xuống làm âm vang mặt đất...

Nhưng em ơi, cái điều trông đợi nhất

Vẫn những gì có thể có hôm nay

Từ hôm nay, trên mảnh đất ta đây

Ta nắm nó như sợi mây vững chãi

Rồi rút dần từ cánh rừng vĩ đại

Của cuộc đời hằng nuôi dưỡng chúng ta

Và diệu kỳ thay! Ta bỗng loá bất ngờ

Ta đã thấy cuộc đời vô hạn

Giữa đất đai, nhân dân, bè bạn

Ta tìm ra ánh sáng của Con Người

Những Con Người làm sông núi sáng tươi...

*

Những địa danh trôi từ thuở xa xôi

Trôi bằng máu và trôi bằng nước mắt

Đã đọng lại thành tên ngươi, tên đất

Bao năm rồi suốt mặt pha, triền sông

Nhưng không có con người nào đã trôi hết sâu nông

Bằng những người dân miền Tây nghèo khổ

Đây không biển thì rừng làm biển cả

Một biển xanh với cồn sóng ngút trời

Họ bám mình vào tấm rẫy nổi trôi

Rồi gục chết dưới màu xanh vĩnh viễn

Cuộc đời họ mênh mang bất định

Chỉ đó nghèo bám riết lấy màu da

Ôi mây trắng ngang đầu, gió dưới rừng xa

Đất Nước ở đâu? Đâu là Đất Nước?

Kờ-ruồng Kù tiệt!

Tiếng suối hay tiếng chim?

Tiếng người hay tiếng chiêng?

Tiếng đá lăn, cây đổ?

Thác gào hay đá nổ?

Kờ-ruồng Kù tiệt!

Kờ-ruồng Kù tiệt!

Đất Nước! Đất Nước!

Đất Nước trên miệng ta rồi

Trong tim ta mang

Trên chân ta bước

Đất Nước! Đất Nước!

Cả núi rừng thét lên đồng loạt!

Đó là năm dưới thời giặc Pháp

Chúng hất hàng chục chòi Ta-ôi ra khỏi bản đồ

Đẩy họ vào những cánh rừng xanh không Tổ quốc

Chính lúc đó

Lửa đã cháy lên!

Lửa ngàn đời từ mỗi bếp cháy lên!

Đốt nhà! Ta đốt hết nhà!

Địu con lên lưng vác giáo lên vai

Đánh trăm chiếc cồng xuyên thủng núi

Mắt người già quắc lên cho đàn trẻ theo

Ta đạp rừng nhằm phía Đông bươn tới!

Ôi ta về nguồn! Về nguồn!

Kờ-ruồng Kù tiệt!

Kờ-ruồng Kù tiệt!

Đất Nước! Đất Nước!

Ôi ta về theo Đất Nước

Ta không chịu làm người dân không Đất Nước

Không Việt Nam

Biển rừng gào lên như muốn níu chân ta

Biển rừng không cuốn ta vào vô định nữa

Ta làm con suối rừng biết tìm sông mà tới

Ta làm con nai biết tìm lối mà về

Mặt trời mọc, mặt trời chỉ hướng

Ôi lòng ta có mặt trời soi sáng

Ta trở về Đất Nước Tổ tiên ơi!...

Và hôm nay

Khi bom thằng Mỹ tới

Cắt ngang những nói nhọn nhà làng

Chôn những nhà mồ vào đất bụi

Ta đánh lên tiếng cồng

Ta gọi vang rừng vang úi

Đất Nước!

Ta đánh lên tiếng chiêng cho cả Bắc Nam cùng nghe được!

Nghe tấm lòng người Tà-ôi, Pa-kô, Cà-tu

Thuỷ chung Đất Nước

Rồi ta quăng cồng dưới suối

Rồi ta chủ chiêng dưới cây

Ta đi

Trong âm vang yêu nước

Ta đi với rựa và tên

Rựa ta mài vào gỗ thành nương

Tên ta gài xuống đất thành bẫy

Thằng Mỹ vào thì xác mà để đấy!

Thằng nguỵ vào thì xác nó đừng chôn!

Cho cháu con ta, ai sau nữa, được nhìn!

Ôi Đất Nước đầu mũi dao

Đất Nước đầu mũi tên

Đất Nước đầu tiếng chiêng

Đất Nước là ngọn lửa

Đất Nước tràn lên từng đỉnh núi

Đất Nước thiêng liêng...

*

Đêm nay ta lên hết mặt sông Hồng!

Nước đánh động dưới chân ta rồi

Đất Nước

Đang gọi ta từng hồi trống thúc

Đất Nước xoáy nhào tim ta

Ký ức

Đất Nước muôn đời đang vặn mình, đang sôi...

Chúng ta là người dân miền Nam

Nhung tôi biết anh gốc gác họ Hoàng Kinh Bắc

Còn tôi họ Nguyễn tỉnh Đông

Huyết thống ta trôi trên bán đảo âm thầm

Hôm nay bỗng réo sôi từng hồi từng trận

Khi cơn lũ đang lao qua châu thổ sông Hồng!

Ta lên hết mặt đê sông Hồng!

Dẫu chỉ bằng tâm tưởng

Ở đâu đó ta không còn nhớ nữa

Sao tổ tiên ta cầm cuốc, cầm cày

Cầm giáo, cầm khiên và cất tiếng hát lưu đày

Để xa châu thổ từ độ ấy...

Ôi những gốc tre tổ tiên ta từng thấy

Vẫn còn nguyên trên bờ bãi sông Hồng

Lúa lên xanh trên những cánh đồng

Cũng có tay cha ông in vào trong lúa

Sâu thẳm quá cho đến từng mái rạ

Cũng có dáng một ngày cha ông khăn gói bước ra

Ôi những gì Người đã ước mơ

Thì bây giờ cũng thơm lá thơm hoa

Nên hôm nay chúng ta

Phải lên hết đê sông Hồng mà giữ lấy!

Đất Nước

Phải chặt tre, đóng cọc mà giữ lấy!

Đất Nước

Phải đan phên, đổ đất mà giữ lấy!

Đất Nước

Phải phá nhà, chặt cây vườn vác ra mà giữ lấy!

Đất Nước

Phải neo người xuống sông, chặn nước mà giữ lấy!

Đất Nước

Đất Nước không thể trôi được!

Máu xương, mồ mả tổ tiên đã trôi đi

Những dòng họ đã trôi đi

Nhưng hôm nay không thể nào trôi được!

Đất Nước

Đang gầm lên trong sóng gió ngất trời

Hàng chục triệu thước khối nước đang lao vào mặt đất

Cuộc xáp trận của vật chất muốn đè vật chất

Của thiên nhiên đè xuống con người

Ta vươn mình gánh lấy đất đai

Ta ném máu xương ta vào làm vật cản

Tất cả ý chí và sinh mạng

Phải được vai dựa vào vai, đùi gối lên đùi

Đẩy con đê sông Hồng tiến lên phía trước

Thắng giặc Mỹ hay thắng giặc nước

Đều nhất tề xung phong!

Sơn Tinh đang nhìn ta lo lắng đăm đăm

Cả nhân loại đang nhìn ta cổ vũ

Con cháu ta mai sau hối hả lật từng trang lịch sử

Ngợp trước con đê sông Hồng lên cao, lên cao...

Chào 4000 năm! Con đê như một cánh tay cao

Của thế trận những người làm chủ

Làm chủ cuộc đời và lướt từng đỉnh lũ

Bảo vệ miến Bắc, chi viện miền Nam!

Mẹ Việt Nam ơi!

Đêm nay con về gối đầu trên cánh tay của Mẹ

Ôi cánh tay rắn rỏi, dịu hiền

Lấm láp bùn lầy nhưng ấm áp niềm tin

Đó là hai cánh đê sông Hồng của Mẹ

Mẹ phả vào mặt con nồng nàn mùi sữa

Của những đồng xa nguyên vẹn như mùa

Con đã đi xa từ thuở ấy đến giờ

Nay bọn Mỹ còn cắt chia Đất Nước

Nhưng đêm đêm con trở về thân thuộc

Ngủ trên cánh tay Mẹ hiền từ cay đắng nuôi con

Trong tháng năm chớp bể mưa nguồn

Ru con lớn và làm người thương Mẹ...

*

Đã có một thời

Ai muốn vào châu Mỹ La-tinh

Đến trước vịnh Ca-ra-ip

Sẽ không cần dùng địa bàn

Cứ nhìn những xác da đen

Trôi bập bềnh trên biển

Những xác da đen chỉ hướng

Đưa anh vào “mảnh vườn sau” của chủ nghĩa thực dân

Đã có một thời

Ai muốn đến Việt Nam

Cứ theo gót những đàn ngựa phương Bắc

Hay chữ thập trên tàu buôn nước Pháp

Các bạn sẽ tìm ra Việt Nam

Bởi vì ngày ấy

Nước chúng tôi chưa có trên bản đồ thế giới

Ngôn ngữ loài người chưa biết hai chữ “Việt Nam”

Và dẫu bạn đến đây

Chỉ có những tên đô hộ phủ toàn quyền

Đứng ra tiếp bạn

Nhưng hôm nay

Bạn hãy đi theo những đoàn đi bộ tuần hành

Mang những lá cờ sao vàng

Ở Pa-ri, ở Mát-xcơ-va hay Xtốc-khôm

Bạn sẽ đến được Việt Nam tôi đó

Bởi vì Việt Nam hôm nay

Nằm giữa lòng thế giới

Nằm trong tim nhân loại

Nằm trên con đường dẫn ta tới giá trị Con Người...

Bởi vì Việt Nam hôm nay

Là Việt Nam chống Mỹ

Chúng tôi gánh trên vai hành trang nặng nề của thế kỷ

Để bạn bình tâm bước vào ngưỡng cửa Tự do...

Bạn đến đây

Đã có Bác Hồ

Và Nhân dân tôi sẵn sàng đón bạn

Dẫu Người đi vắng

Bạn có thể đến nhà Người thăm một khóm hoa

Rồi cùng nhân dân tôi trò chuyện

Nhân dân tôi đẩy tình yêu mến

Đã được Người dặn dò trước phút đi xa...

Bạn hỏi vì sao cúng tôi yêu quý Bác Hồ

Bởi vì Người là Người đầu tiên

Về với Đất Nước chúng tôi

Mang chủ nghĩa Mác-Lê nin

Chứa trong trái tim yêu nước nhất

Khi Người đặt tay lên

Hòn đất Việt Nam đầu biên giới

Thì từ đó

Đất không phải là đất nữa

Đất là chiến hào

Đất là cạm bẫy

Đất là hoa trái

Nuôi chúng tôi, che chúng tôi cầm súng lên đường!

Có Người, chúng tôi có lại Hùng Vương

Có lại dáng búp sen nghìn năm của chùa Một Cột

Và những búp sen miền Nam tận bùn lầy Đồng Tháp

Có Người, cũng đã thành thơ

Có Người, mỗi mũi tên đồng Cổ Loa

Không chịu vùi dưới đất

Không nằm yên trong viện bảo tàng

Chúng bay lên xé gió thời gian

Mở hết đường bay qua thăng trầm lịch sử

Để cắm vào đầu giặc Mỹ!

Có Người, pho Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt

Biết toả hào quang từ hàng chục cánh tay

Có Người, pho Bồ Tát triều Lý chỉ còn đầu

Vẫn nguyên vẹn trong lòng chúng tôi nhờ búi tóc thời vua Hùng để lại

Và pho Kim Cương trên đôi chân vững chãi

Dẫu mất đầu vẫn giữ một dáng đứng Việt Nam

Đấy, Đất Nước chúng tôi đổ vỡ biết bao lần

(Cả những pho từ bi cũng không ngoài hoạn nạn

Nhưng có Người, những cái mất đi phải trả về hình dáng)

Quá khứ được nhìn từ đôi mắt Hôm Nay

Và Hôm Nay từ đôi mắt Ngày Mai

Chúng tôi sống bằng Tương lai một nửa

Bằng tình yêu vô hạn những con người

Như Hôm Nay nhìn Đất Nước cắt đôi

Chúng tôi đã thấy ngày hàn gắn...

Bởi vì Người là người đầu tiên

Yêu miền Nam trong trái tim mình

Yêu tuổi trẻ miền Nam 25 năm

Chưa có được ngày hạnh phúc

Mà Người dạy chúng tôi

Hãy bền gan đánh giặc

Dẫu phải chết cũng không khuất phục:

“Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do!”

Chúng tôi là con cháu Bác Hồ

Có nghĩa là chúng tôi giống Bác

Những gì còn non nớt

Chúng tôi học tập để sống, chiến đấu như Người

Bởi vì Người là đất nước của chúng tôi

Mỗi sợi tóc trắng của Người đều ghi ngày gian khổ nhất

Của Đất Nước, những năm dài đánh giặc

Đôi dép của Người mòn vẹt gót

Người đã đi những ngả đường Đất Nước hành quân

Trái cà Người ăn

Cũng là trái cà nuôi người anh hùng đầu tiên - Thánh Gióng

Cây gậy Người cầm

Cũng có thể tìm trong trăm ngàn gậy vượt Trường Sơn

Ý chí của Người

Ý chí toàn dân tộc

Lý tưởng của Người

Sự sống chúng tôi mang...

Hồ Chí Minh - Việt Nam

Bạn và tôi cùng gọi

Hồ Chí Minh - Việt Nam

*

Em nghe không trái thị đã rơi xuống tay Người

Trái không chỉ rơi vì sức hút đất đai

Trái rơi vì tay Người ao ước

Khi trái chạm vào tay Người và Người ấp ủ

Thì lừng hương tay Người và Người ấp ủ

Thì Lừng hương và cô Tấm bước ra

Đi trả thù và sống Tự do...

Không rơi xuống bùn, ôi trái thị quê ta

Để bùn lấm và thành bùn vạn kiếp

Rơi vào tay Người, đó là định luật

Của đấu tranh và nhân nghĩa Việt Nam

Tuổi trẻ ơi trong sương gió tháng năm

Ta đã lớn rồi, chín đầy hy vọng

Hãy ngã xuống tay Nhân dân, hỡi sắc vàng của nắng

Hỡi hương thơm của nồng mặn mồ hôi..

Hãy ngã vào tay Nhân dân, đừng vãi đừng rơi

Đừng do dự, đừng hoài nghi nữa

Hãy yêu Nhân dân và nghe Người nhắn nhủ

Hãy tìm sức mạnh mình trên cơ thể Nhân dân

Nhân dân đang đi lên đội ngũ trùng trùng

Thế vô tận của nghìn năm giết giặc

Lửa đã cháy hồng hào mặt đất

Mùa chín tình yêu, mùa chín hận thù!

- Không bao giờ xương máu phải bơ vơ

Ôi sông núi nghi ngàn dặm đất

Có nghe tiếng chúng con: Xin có mặt

Nguyện làm người xung kích của quê hương

Đây tiếng hát chúng con:

Tiếng hát xuống đường!

(Nguyễn Đức Nam (chủ biên), Trích Đất nước, Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Giáo dục, 1985)

* Chú thích: Bài thơ này được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 12 giai đoạn 1990-2006, SGK Ngữ văn 12 từ 2007. Trích đoạn bài thơ này được sử dụng trong đề thi tốt nghiệp THPT quốc gia môn Ngữ văn các năm 2017, 2020, 2024.

II. Câu hỏi Đọc hiểu Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Nêu dấu hiệu nhận biết.

Trả lời:

Bài thơ trên được viết theo thể thơ tự do.

Dấu hiện nhận biết:

+ Không giới hạn số câu, số chữ trong một dòng thơ.

+ Không bắt buộc theo khuôn mẫu vần điệu như lục bát hay thất ngôn bát cú.

+ Nhịp thơ linh hoạt, có thể thay đổi theo cảm xúc và ý tưởng của tác giả.

+ Nội dung thường thể hiện tư tưởng sâu sắc, cảm xúc mạnh mẽ, phù hợp với cách biểu đạt hiện đại.

Câu 2: Hãy lí giải ngắn gọn vì sao nhà thơ viết "Đất Nước là máu xương của mình"?

Trả lời:

Nhà thơ viết: "Đất Nước là máu xương của mình" vì đất nước không trừu tượng, xa xôi mà đất nước kết tinh, hóa thân trong mỗi con người. Mỗi người cần bảo vệ, giữ gìn đất nước như sinh mệnh, sự sống của chính mình.

Câu 3: Từ "hóa thân" được in đậm trong bài thơ trên có ý nghĩa gì?

Trả lời:

Từ "hóa thân" trong đoạn thơ có ý nghĩa chỉ hành động sẵn sàng cống hiến, hi sinh cho đất nước.

Câu 4: Tại sao từ “Đất Nước” được viết hoa?

Trả lời:

Từ “Đất Nước” được viết hoa - coi "Đất Nước" là một sinh thể, thể hiện sự tôn trọng, ngợi ca, thành kính, thiêng liêng khi cảm nhận về Đất Nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

III. Câu hỏi Viết Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

Câu 1: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.

Trả lời:

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, móc xích…).

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 200 chữ.

- Xác định đúng vấn đề nghị luận

+ Phân tích đặc sắc nghệ thuật của văn bản Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.

- Hệ thống ý:

+ Giọng điệu thơ trữ tình – chính luận đan xen:

. Vừa nhẹ nhàng, sâu lắng, vừa trang trọng, dồn dập, mang tính chiêm nghiệm và truyền cảm.

. Tạo nên chiều sâu suy tư và cảm xúc cho người đọc.

+ Sử dụng thể thơ tự do:

. Linh hoạt, uyển chuyển, phù hợp để diễn đạt tư tưởng, cảm xúc đa dạng.

. Giúp bài thơ gần gũi với ngôn ngữ đời sống, lời nói tự nhiên.

+ Hệ thống hình ảnh giàu sức gợi, mang tính biểu tượng:

. Hình ảnh gần gũi, bình dị: “miếng trầu”, “cái kèo, cái cột”, “hạt gạo”, “tóc mẹ bới sau đầu”…

→ Gợi lên chiều sâu văn hóa dân tộc.

. Hình ảnh thần thoại, truyền thuyết: Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng…

→ Thể hiện chiều dài lịch sử và sức mạnh tinh thần của dân tộc.

+ Khai thác chất liệu văn hóa dân gian:

. Ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, truyền thuyết…

. Tạo nên bản sắc dân tộc đậm đà, giúp người đọc “thấy mình” trong lịch sử và văn hóa Việt Nam.

+ Sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ:

. Điệp ngữ: “Đất là… / Nước là… / Đất nước là…” → nhấn mạnh ý tưởng, tạo nhịp điệu giàu cảm xúc.

. Liệt kê và ẩn dụ → mở rộng không gian tư tưởng, làm nổi bật quan niệm mới mẻ về đất nước.

. Kết hợp lời gọi “Em ơi em…” mang tính đối thoại trữ tình → tạo cảm giác gần gũi, gắn bó.

=> Khẳng định: Những đặc sắc nghệ thuật đó đã làm nên sức sống lâu bền cho bài thơ Đất nước, giúp truyền tải trọn vẹn tình yêu, niềm tự hào và trách nhiệm với đất nước của thế hệ trẻ hôm nay.

- Phát triển đoạn văn logic, thuyết phục

+ Dẫn chứng từ bài thơ để minh chứng cho nhận định.

+ Thể hiện rõ suy nghĩ về đặc sắc nghệ thuật của bài thơ.

- Đảm bảo ngữ pháp, liên kết:

+ Trình bày rõ ràng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả.

- Sáng tạo

+ Cách diễn đạt mới mẻ, có suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Đoạn văn tham khảo

Bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm mang đậm màu sắc nghệ thuật độc đáo, góp phần thể hiện tư tưởng sâu sắc về đất nước của nhân dân. Trước hết, giọng điệu thơ là sự kết hợp hài hòa giữa trữ tình và chính luận, vừa mềm mại, sâu lắng, vừa trang trọng, mạnh mẽ, truyền cảm. Tác giả sử dụng thể thơ tự do linh hoạt, tạo nhịp điệu tự nhiên gần với lời nói đời thường, giúp những triết lý về đất nước trở nên dễ hiểu, dễ cảm. Hệ thống hình ảnh trong bài thơ giàu sức gợi, vừa bình dị đời thường như “miếng trầu”, “tóc mẹ”, “cái kèo cái cột”, vừa mang tính biểu tượng văn hóa dân tộc như Lạc Long Quân – Âu Cơ, Thánh Gióng, núi Vọng Phu, hòn Trống Mái… Qua đó, nhà thơ khai thác triệt để chất liệu văn hóa dân gian, ca dao, truyền thuyết để làm bật lên chiều sâu lịch sử và tâm hồn dân tộc. Các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ, liệt kê, ẩn dụ được vận dụng nhuần nhuyễn, góp phần khắc sâu quan niệm: Đất nước là của nhân dân, do nhân dân làm nên và gìn giữ. Chính sự kết hợp nghệ thuật ấy đã làm nên vẻ đẹp tư tưởng và chiều sâu cảm xúc cho bài thơ.

Câu 2: Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm.

Trả lời:

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm.

- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:

* Mở bài:

- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm: ông thuộc thế hệ nhà thơ chống Mĩ cứu nước, thơ ông là sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và chất triết lí, suy tư của người trí thức về đất nước, con người.

- Giới thiệu về bài thơ Đất nước: được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lý sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”.

* Thân bài:

Đất nước được cảm nhận từ phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian

a. Đất nước có từ bao giờ? (lí giải cội nguồn của đất nước) (9 câu đầu)

- Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước.

- Đất nước bắt nguồn từ những điều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa: “ngày xửa ngày xưa” gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian, “miếng trầu” gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau, “Tóc mẹ thì bới sau đầu”: thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam, “Thương nhau bằng gừng cay muối mặn” thói quen tâm lý, truyền thống yêu thương của dân tộc.

- Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương”, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

- Nhận xét: Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc.

b. Định nghĩa về đất nước (28 câu thơ tiếp theo)

- Về phương diện không gian địa lý:

+ Tác giả tách riêng hai yếu tố “đất” và “nước” để suy tư một cách sâu sắc.

+ Đất nước là không gian riêng tư quen thuộc gắn với không gian sinh hoạt của mỗi con người: “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”; gắn với kỉ niệm tình yêu lứa đôi: “nơi em đánh rơi... thương thầm”.

+ Đất nước là không gian bao la trù phú, không gian sinh tồn của cộng đồng qua bao thế hệ: “Đất là nơi con chim phượng hoàng... dân mình đoàn tụ”.

- Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai:

+ Trong quá khứ đất nước là nơi thiêng liêng, gắn với truyền thuyết, huyền thoại: “Đất là nơi chim về... trong bọc trứng”

+ Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giữa cái riêng và cái chung.

+ Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa” “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.

- Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hy sinh để góp phần dựng xây đất nước.

- Nhận xét: qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau.

Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước: đất nước của nhân dân

- Thiên nhiên địa lý của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:

+ Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”

+ Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.

+ Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”

- Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:

+ Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.

+ Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.

- Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa: “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”, ... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.

- Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.

- Nhận xét:

+ Về nội dung: đoạn trích “Đất nước” đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về đất nước trên nhiều bình diện: văn hóa, lịch sử, địa lí dựa trên tư tưởng cốt lõi: “đất nước của nhân dân”.

+ Về nghệ thuật: sử dụng đa dạng và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc.

* Kết bài:

- Khẳng định lại giá trị của đoạn trích: đoạn trích đã nhấn mạnh tư tưởng “đất nước của nhân dân”, thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả, đánh thức tinh thần yêu nước trong mỗi con người.

- Nêu cảm nhận riêng về đoạn trích đất nước và có liên hệ thực tiễn đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay với đất nước.

Bài văn tham khảo

Từ xưa đến nay viết về đất nước luôn là nguồn mạch cảm hứng chủ đạo của nền văn học. Tiếp tục mạch nguồn của văn học dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm một gương mặt nổi bật của văn học kháng chiến chống Mĩ đã có những quan điểm hết sức mới mẻ về đất nước. Quan điểm đó đã được ông thể hiện đầy đủ nhất qua đoạn trích Đất nước thuộc trường ca Mặt đường khát vọng.

Đất nước đối với mỗi người là một ý niệm khác nhau. Đối với Nguyễn Khoa Điềm cũng vậy, bằng sự cảm biết của mình, sự phân tích bằng tư duy logic, lần lượt từng lớp lang của khái niệm đất nước đã được ông dần dần lật mở. Ông không định nghĩa bằng những khái niệm quá mông lung, trừu tượng mà đi từ những điều hết sức cụ thể trong chính cuộc sống:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu ây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân ta biết trồng tre mà đánh giặc

Qua khái niệm của tác giả, Đất Nước hiện lên thật bình dị, đất nước có từ những câu chuyện cổ tích, từ miếng trầu, từ truyền thuyết thánh Gióng trồng tre đánh tan quân xâm lược Ân. Đất Nước ta có từ ngày đó, thấm thuần trong lòng mỗi đứa trẻ từ tấm bé.

Không chỉ vật Đất Nước còn được hình thành từ thuần phong mĩ tục, từ những nét văn hóa, truyền thống đẹp đẽ của dân tộc ta. Hình ảnh “Tóc mẹ thì bới sau đầu” cho thấy nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa đã được bảo lưu từ ngàn đời của ông cha ta. Dù một nghìn năm Bắc thuộc, bị phương Bắc tìm mọi cách Hán hóa ấy vậy nhưng không có cách nào xóa được những vốn văn hóa đẹp đẽ của dân tộc ta. Đất Nước cũng được hình thành từ lối sống giàu tình nghĩa, thủy chung mà khởi nguồn chính là mối quan hệ vợ chồng: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Ở đây Nguyễn Khoa Điềm có sự vận dụng hết sực thuần thục ca dao: “Tay nâng đĩa muối chấm gừng/ Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau” để cho thấy Đất Nước được hình thành từ những điều tưởng như giản dị mà hết sức thiêng liêng, cao quý.

Tiếp tục mạch cảm hứng đó, Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục triết tự về khái niệm Đất Nước:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khắn trong nỗi nhớ thầm

Đất Nước không xa lạ mà chính là không gian sinh tồn, gần gũi với đời sống sinh hoạt của tất cả chúng ta. Nguyễn Khoa Điềm đã không hoa mĩ, không ngần ngại mà làm sáng tỏ nó là nơi đến trường, nơi tắm, nơi hò hẹn, nơi nhớ nhung. Vâng, Đất Nước chính là được hình thành từ những điều dung dị nhất của cuộc sống. Và để làm sâu sắc thêm khái niệm, ông đã truy nguyên nguồn gốc từ quá khứ: “Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ/ Đât là nơi chim về/ Nước là nơi rồng ở/ Lạc Long Quân và Âu Cơ/ Đẻ đồng bào ta trong bọc trứng”. Từ sự lí giải sâu sắc hai phương diện lịch sử và địa lý ông đã dần dần tiến tới hoàn chỉnh khái niệm Đất Nước. Đồng thời từ đó cũng nêu lên trách nhiệm của mỗi con người đối với đất nước: “Những ai đã khuất/ Những ai bây giờ/ yêu nhau và sinh con đẻ cái/ Gánh vác phần người đi trước để lại/ Dặn dò con cháu việc mai sau/ Hằng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ”. Hai từ “gánh vác” đã khẳng định trách nhiệm của thế hệ mai sau đối với công cuộc dựng nước và giữ nước. Đồng thời ông cũng lên tiếng nhắc nhở, dù xây dựng đất nước cũng không được quên đi công ơn của người đã dựng xây, kiến tạo nên Đất Nước. Chỉ với hai chữ “cúi đầu” cũng đã cho thấy tấm lòng thánh kính thiêng liêng hướng về quê cha, đất tổ.

“Trong anh và em hôm nay/…/Đất Nước vẹn tròn to lớn”, đoạn thơ đã khẳng định, Đất Nước được tồn tại và vững bền là bởi sự đoàn kết của mọi người, là sự yêu thương của đôi lứa. Chỉ khi có sự hòa hợp giữa cái chung và cái riêng, giữa cá nhân và tập thể thì khi ấy mới có đất nước vẹn tròn ton lớn. Và từ đó ông nêu lên trách nhiệm của mỗi cá nhân cũng như toàn bộ thế hệ trẻ đối với đất nước: “Em ơi em đất nước là máu xương của mình/ Phải biết gắn bó và san sẻ/ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở/ Làm nên đất nước muôn đời”. Vì bởi:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

…

Những người dân nào đã góp nên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Hàng loạt những địa danh, danh lam thắng cảnh được ông gọi tên. Mỗi địa danh ấy gắn liền với một chiến tích, với một sự hi sinh thầm lặng để làm nên đất nước muôn đời. Cũng bởi vậy, đã khiến ông rút ra kết luận: “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi/…/Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”.

Để làm nên đất nước chắc chắn không thể là một cá nhân có thể kiến tạo cả nên văn hóa, truyền thống và lịch sử dân tộc. Vậy đó là ai, là những người nào?

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

Quả đúng, đó chính là người vô danh, họ là những người con gái con trai, họ“đã sống và chết” “giản dị và bình tâm” họ đã mang tên làng tên xã, mang phong tục tập quán truyền lại, bảo lưu cho thế hệ mai sau. Chính họ là người đã làm nên Đất nước. Với biện pháp liệt kê và điệp “họ” Nguyễn Khoa Điềm đã vẽ ra trước mặt người đọc tầng tầng lớp lớp những con người vô danh nối tiếp nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác truyền lại cho con cháu những giá trị vật chất tinh thần cao quý nhất. Và điều họ hướng đến chính là:

Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân

Đất nước của Nhân Dân, Đất nước của ca dao thần thoại

Đến đây Nguyễn Khoa Điềm đã mạnh mẽ khẳng định quan điểm tư tưởng đất nước nhan dân của mình. “Trở về với nguồn cội của Đất Nước cũng là trở về với cội nguồn phong phú, đẹp đẽ la văn hóa dân gian” khởi thủy của mọi truyền thống văn hóa tốt đẹp của nhân dân ta. Đồng thời đó cũng là nơi làm nên, khơi dậy nên truyền thống văn hóa tốt đẹp của nhân dân ta:

Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”

Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội

Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

Đi trả thù mà không sợ dài lâu

Bài thơ kết lại bằng tiếng hát tự hào, trải dài, dường như âm hưởng của nó vang vọng khắp núi sông. Đồng thời tiếng hát đó cũng cho thấy niềm tự hào sâu sắc của tác giả đối với vốn truyền thống văn hóa ngàn đời của cha ông để lại.

Đất Nước là bài thơ giàu suy tư và triết lí, thể hiện quan niệm rất riêng, rất mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước. Với bài thơ này, người đọc lại được mở mang thêm tri thức, lại có thêm một cách nhìn nhận về Đất Nước trong chiều dài lịch sử. Từ đó cũng càng thêm yêu mến, tự hào với nơi mình được sinh ra và lớn lên.

1 200 26/05/2026