Câu hỏi:
17/06/2026 350
Xét các kết hợp từ dưới đây, cho biết trường hợp nào là câu, trường hợp nào chưa phải là câu. Vì sao?

Trả lời:
Giải bởi Vietjack
- Các trường hợp là câu:
+ Nam dẫn bà cụ sang đường.
+ Bà cụ rất cảm động.
+ Bà muốn sang đường phải không ạ?
+ Cảm ơn cháu nhé!
Vì: Các câu trên có chữ cái đầu câu viết hoa và có dấu kết thúc câu.
- Các trường hợp chưa phải là câu:
+ giúp đỡ người già
+ Nam và bà cụ
+ đã già yếu
Vì: Các kết hợp từ trên không có dấu kết thúc câu và các chữ đầu câu không viết hoa.
* Kiến thức mở rộng
DẤU CÂU
- Dấu câu là kí hiệu chữ viết để biểu thị ngữ điệu khác nhau. Những ngữ điệu này lại biểu thị những quan hệ ngữ pháp khác nhau và những mục đích nói khác nhau.
- Mười dấu câu thường dùng là: Dấu chấm, chấm hỏi, chấm than (chấm cảm), dấu phẩy, chấm phẩy, hai chấm, gạch ngang, ngoặc đơn, ngoặc kép, chấm lửng (ba chấm).
a. Dấu chấm:
- Dấu chấm đặt ở cuối câu báo hiệu câu đã kết thúc. Viết hiết câu phải ghi dấu chấm. Khi đọc, gặp dấu chấm phải hạ giọng và nghỉ hơi (nghỉ hơi một quãng bằng khoảng thời gian đọc một chữ). Chữ cái đầu câu phải viết hoa. Dấu chấm thường đặt ở cuối câu kể, đồng thời có khả năng đánh dấu sự kết thúc của một đoạn văn.
b. Dấu phẩy:
- Dấu phẩy được đặt xen kẽ trong câu. Một câu có thể có một hoặc nhiều dấu phẩy. Khi đọc, gặp dấu phẩy phải ngắt hơi ngắn (thời gian ngắt hơi bằng bằng nửa quãng nghỉ hơi sau dấu chấm). Dấu phẩy giúp cho cácý, các phần trong câu được phân cách rõ ràng.
- Dấu phẩy dùng để :
+ Tách các bộ phận cùng loại (đồng chức) với nhau.
+ Tách các bộ phận phụ với nòng cốt câu.
+ Tách các vế câu ghép.
c. Dấu chầm hỏi:
- Dùng đặt cuối câu hỏi. Khi đọc câu có dấu chấm hỏi, cần nhấn mạnh vào nội dung cần hỏi.Thời gian nghỉ lấy hơi sau dấu phẩy như dấu chấm. Sau dấu chấm hỏi, bắt đầu một câu khác, phải viết hoa chữ cái đầu câu.
d. Dấu chấm than (dấu chấm cảm):
- Là dấu câu dùng để đặt cuối câu cảm hoặc câu khiến. Khi gặp dấu chấm cảm phải nghỉ hơi như dấu chấm.
e. Dấu chấm phẩy:
- Là dấu dùng đặt giữa các vế câu hoặc các bộ phận đẳng lập với nhau. Khi đọc phải ngắt ở dấu chấm phẩy, ngắt quãng dài hơn so với dấu phẩy và ngắn hơn so với dấu chấm.
f. Dấu hai chấm:
Là dấu dùng để:
- Báo hiệu lời tiếp theo là lời nói trực tiếp của người khác được dẫn lại (dùng kèm dấu ngoặc kép hoặc dấu gạch đầu dòng).
- Báo hiệu lời tiếp theo là lời giải thích, thuyết minh cho bộ phận đứng trước nó.
g. Dấu gạch ngang:
- Là dấu câu dùng để:
+ Đặt trước những câu hội thoại.
+ Đặt trước bộ phận liệt kê.
+ Dùng để tách phần giải thích với các bộ phận khác của câu.
+ Dùng để đặt trước các con số, tên riêng để chỉ sự liên kết.
h. Dấu ngoặc đơn:
- Là dấu câu dùng để:
+ Chỉ ra nguồn gốc trích dẫn.
+ Chỉ ra lời giải thích.
i. Dấu ngoặc kép:
- Dùng để:
+ Báo hiệu lời dẫn trực tiếp.
+ Đánh dấu tên một tác phẩm.
+ Báo hiệu những từ trong ngoặc kép phải hiểu theo nghĩa khác với nghĩa vốn có của nó hoặc hiểu theo nghĩa ngược lại, mỉa mai.
k. Dấu chấm lửng (dấu ba chấm):
- Dùng để :
+ Biểu thị lời nói bị đứt quãng vì xúc động.
+ Ghi lại những chỗ kéo dài của âm thanh.
+ Chỉ ra rằng người nói chưa nói hết.
l. Ví dụ:
- Dấu chấm (.) : Đặt cuối câu kể: Chị tôi đan nón lá cọ để xuất khẩu.
- Dấu phẩy (,):
+ Ngăn cách giữa trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ: Sáng nay, gió lạnh đã tràn về.
+ Ngăn cách giữa các vế trong câu ghép : Lan học Toán, Nam học văn.
+ Ngăn cách các bộ phận cùng chức vụ trong câu: Hoa, Lan, Minh là những học sinh giỏi.
- Dấu chấm hỏi (?): Đặt cuối câu hỏi: Thuở đi học, chữ Cao Bá Quát như thế nào?
- Dấu chấm than, chấm cảm (!): Đặt cuối câu cảm, câu khiến:
+ Bạn Giang học giỏi thật!
+ Nhà vua hãy hoàn lại gươm cho Long Vương!
- Dấu chấm phẩy (;) :
+ Ngăn cách các vế trong câu ghép đẳng lập: Đất nước ta giàu đẹp; nhân dân ta cần cù.
+ Tách các nhóm ý hoặc ý lớn trong một câu khi chúng có sự khác biệt nào đó với nhau: Nó lấy đầu nén đất của tổ nhiều lần cho chắc rồi san bằng; không thể nhận ra tổ dế ở chỗ nào nữa.
+ Phân tách các ý lớn có tác dụng liệt kê: Những cảnh tuyệt đẹp của đất nước hiện ra: cánh đồng với những đàn trâu thung thăng gặm cỏ; dòng sông với những đoàn thuyền ngược xuôi.
+ Khi các vế có tác dụng bổ sung cho nhau: Sáng tạo là vấn đề rất quan trọng; không sáng tạo không làm cách mạng được.
+ Dùng để tách các bộ phận đẳng lập với nhau: Nó mua sách, vở; chăn, màn.
+ Cách đọc: Khi đọc phải ngắt hơi ở dấu chấm phẩy, quãng ngắt dài hơn so với dấu phẩy và ngắn hơn so với dấu chấm.
- Dấu hai chấm (:) :
+ Báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời dẫn trực tiếp của người khác (dẫn lời nói của các nhân vật) thường dùng kết hợp với dấu ngoặc kép hoặc dấu gạch ngang đầu dòng.
a) Hải reo lên: “A, mẹ đã về!”
b) Tôi thở dài:
- Còn đứa bị điểm không, nó tả như thế nào?
+ Báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời giải thích cho bộ phận đứng trước: Cảnh vật xung quanh tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay, tôi đi học.
+ Dấu hai chấm đặt trước khi liệt kê các sự vật cần được giải thích: Ở trường, em được học rất nhiều môn: Toán, Tiếng Việt, Đạo đức,...
- Dấu gạch ngang (-)
+ Đánh dấu chỗ bắt đầu lời nói của nhân vật trong đối thoại.
Thấy tôi sán đến gần, ông hỏi tôi :
- Cháu con ai ?
- Thưa ông, cháu là con ông Thư.
+ Dấu gạch ngang đánh dấu phần chú thích trong câu văn: Cái đuôi dài - bộ phận khỏe nhất của con vật kinh khủng dùng để tấn công - đã bị trói xếp vào bên mạng sườn.
+ Đặt trước bộ phận liệt kê
Năm nay, nó sẽ phấn đấu về các mặt:
- Học tập
- Thể dục thể thao.
+ Dùng để đặt giữa các con số, nối tên các địa danh, tổ chức có liên quan đến nhau
Năm học 2019 - 2020
Tuyến đường sắt Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Dấu ngoặc đơn ( ) :
+ Chỉ ra nguồn gốc trích dẫn
Không có gì quý hơn độc lập tự do. (Hồ Chí Minh)
+ Đánh dấu phần chú thích (giải thích, thuyết minh, bổ sung thêm).
Cô bé nhà bên (có ai ngờ)
Cũng vào du kích.
+ Nêu ra một tên khác: Trước ngày cách mạng Phan Văn San (Phan Bội Châu) vừa đi học vừa dạy học.
+ Dấu ngoặc đơn còn nêu lên chức vụ, nghề nghiệp, đặc điểm: Ông Nguyễn Xuân Phúc (Thủ tướng Chính phủ) đến thăm Vĩnh Phúc.
+ Nêu nguồn gốc, địa chỉ: Nhà vô địch trong cuộc thi đường lên đỉnh Olympia 2019 là Trần Thế Trung (THPT Chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An)
- Dấu ngoặc kép ( “…” )
+ Dấu ngoặc kép thường dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật hoặc của người nào đó.
Bác tự cho mình là “người lính vâng lệnh quốc dân ra mặt trận” là “đầy tớ trung thành của nhân dân”
Nếu lời nói trực tiếp là một câu trọn vẹn hay một đoạn văn thì trước dấu ngoặc kép ta thường phải thêm dấu hai chấm: Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.”
+ Đánh dấu tên gọi của một tác phẩm: Tác phẩm “Hòn Đất” của Anh Đức.
+ Dấu ngoặc kép còn được dùng để đánh dấu những từ ngữ được dùng với ý nghĩa đặc biệt (những từ ngữ trong ngoặc kép phải hiểu theo nghĩa khác với nghĩa vốn có của nó hoặc hiểu theo nghĩa ngược lại, mỉa mai).
a) Có bạn tắc kè hoa
Xây “lầu” trên cây đa
b) Nó đứng “thứ nhất” từ dưới lên.
- Dấu chấm lửng (dấu ba chấm) (…) :
+ Biểu thị lời nói bị đứt quãng vì xúc động: Ông cụ đã ra đi rồi sao. Thật không ngờ…
+ Ghi lại chỗ kéo dài của âm thanh: Bỗng một tiếng ầm...ầm....ầm... rung động không gian.
+ Chỉ ra rằng người nói chưa hết: Ô hay, có điều gì bố con trong nhà bảo nhau chứ sao lại…
+ Biểu thị ý liệt kê chưa hết: Biển có nghìn thứ cá như: cá thu, cá nhụ, cá song, cá hồi,...
+ Để chỉ ra rằng lời dẫn trực tiếp bị lược bớt một số câu (khi đó dấu chấm lửng thường được đặt trong dấu ngoặc đơn hoặc ngoặc vuông): Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có (…).
+ Cách đọc: Khi đọc đến dấu chấm lửng phải ngắt đoạn.
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Câu 1:
Cánh đồng vàng
(Trích)
Tôi thả trâu ngoài bờ đê. Một mình lên ngọn đê ngồi ngắm cánh đồng. Cánh đồng vàng rực trong nắng chiều hanh hao. Cả đồng lúa đang chín tới. Hình như chúng chen lẫn nhau mà chín.
– Đừng có chen! Đừng có chen! – Những bông lúa kêu lên. Và những bông lúa khác thúc giục:
– Chín nhanh lên! Chín nhanh lên!
Tôi lắng nghe tiếng cánh đồng xôn xao. Mới đây thôi, đồng lúa phơi một màu vàng chanh, còn bây giờ nó đã rực lên một màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa.
Mặt trời càng xuống thấp, cánh đồng lúa càng dâng lên. Màu vàng dâng lên, trải ra mỗi lúc một rộng, giống như toàn bộ cánh đồng là một hồ nước mênh mông màu vàng chói. Cánh đồng bập bềnh, bập bềnh.
Mặt trời vẫn lặn chậm rãi xuống chân trời. Tôi có cảm giác mặt trời sẽ rơi xuống cánh đồng vàng. Tôi thấy mình bập bềnh trên con thuyền giữa biển màu vàng.
– Nhanh lên! Chín nhanh lên!
– Đừng có chen! Đừng có chen!
– Ai ngồi trên đê cao? Chín nhanh lên!
Tôi nghe lúa thì thầm. Tôi cũng thì thầm đáp lời chúng:
– Tôi ngồi trên đê cao. Tôi cũng đang chín với các bạn đây.
Và tôi thấy mình đang chín thật sự. Màu áo xanh của tôi đã nhuốm vàng từ bao giờ, màu vàng lấp lánh ánh hoàng hôn. Hoà nhập vào hạnh phúc lớn lao của người khác, bản thân ta sẽ hạnh phúc. Hoà nhập với cánh đồng, tôi có niềm vui của lúa chín vàng.
(Theo Nguyễn Trọng Tạo)
Tìm trong bài những từ ngữ tả màu sắc của cánh đồng lúa.
Câu 2:
Viết một đoạn văn ngắn (4 – 5 câu) nói về một cảnh vật mà em quan sát được, trong đó có sử dụng điệp từ, điệp ngữ.
Câu 3:
Tìm đọc câu chuyện kể về một người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật (nhà văn, nhà thơ, diễn viên, đạo diễn,...).
Câu 4:
Đọc sách báo về núi, hang động, đại dương, các hành tinh trong hệ Mặt Trời,... hoặc hiện tượng trong thế giới tự nhiên (núi lửa phun trào, lốc xoáy, mưa đá,...).
Câu 5:
Tìm đọc một bài giới thiệu phim.
G: Đọc bài giới thiệu phim trên báo in, in-tơ-nét,...
Ví dụ:
Sử dụng thủ pháp giàu tính diện ảnh, bộ phim hoạt hình lịch sử Đại Hành hoàng đế đã khẳng định được giá trị nội dung, cũng như những tìm tòi, sáng tạo về phong cách thể hiện, hiệu quả hình ảnh với trình độ kĩ thuật cao. Khán giả xem phim bị lôi cuốn vào câu chuyện lịch sử với các tình tiết hấp dẫn, các nhân vật lịch sử được khắc hoạ sinh động.
(Theo báo Nhi đồng).
Phương thuốc kì diệu do Hãng phim Hoạt hình Việt Nam sản xuất là bộ phim hoạt hình vui nhộn. Bộ phim kể về chú nhóm con nghịch ngợm, hay trêu chọc mọi người khiến nhím mẹ lo lắng, buồn bực đến phát ẩm. Thấy mẹ phải nằm trên giường bệnh, nhóm con ăn hận lắm. Nó ở nhà chăm sóc mẹ nhưng mẹ vẫn không khỏi. Nhóm con quyết định đi tìm thuốc chữa bệnh cho mẹ. Trên đường đi, nhóm đã làm nhiều việc tốt giúp đỡ mọi người. Biết nhóm con đã khôn lớn, nhim mẹ cảm thấy vui mừng, hạnh phúc nên đã khoẻ mạnh trở lại.
(Theo báo Nhi đồng)
Câu 6:
Nêu công dụng của dấu gạch ngang trong mỗi trường hợp dưới đây:
b. Việt Nam tự hào về Giáo sư Tạ Quang Bửu – nhà khoa học, nhà giáo dục đa tài, uyên bác.
(Gia Huy)
Câu 7:
Cánh đồng vàng
(Trích)
Tôi thả trâu ngoài bờ đê. Một mình lên ngọn đê ngồi ngắm cánh đồng. Cánh đồng vàng rực trong nắng chiều hanh hao. Cả đồng lúa đang chín tới. Hình như chúng chen lẫn nhau mà chín.
– Đừng có chen! Đừng có chen! – Những bông lúa kêu lên. Và những bông lúa khác thúc giục:
– Chín nhanh lên! Chín nhanh lên!
Tôi lắng nghe tiếng cánh đồng xôn xao. Mới đây thôi, đồng lúa phơi một màu vàng chanh, còn bây giờ nó đã rực lên một màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa.
Mặt trời càng xuống thấp, cánh đồng lúa càng dâng lên. Màu vàng dâng lên, trải ra mỗi lúc một rộng, giống như toàn bộ cánh đồng là một hồ nước mênh mông màu vàng chói. Cánh đồng bập bềnh, bập bềnh.
Mặt trời vẫn lặn chậm rãi xuống chân trời. Tôi có cảm giác mặt trời sẽ rơi xuống cánh đồng vàng. Tôi thấy mình bập bềnh trên con thuyền giữa biển màu vàng.
– Nhanh lên! Chín nhanh lên!
– Đừng có chen! Đừng có chen!
– Ai ngồi trên đê cao? Chín nhanh lên!
Tôi nghe lúa thì thầm. Tôi cũng thì thầm đáp lời chúng:
– Tôi ngồi trên đê cao. Tôi cũng đang chín với các bạn đây.
Và tôi thấy mình đang chín thật sự. Màu áo xanh của tôi đã nhuốm vàng từ bao giờ, màu vàng lấp lánh ánh hoàng hôn. Hoà nhập vào hạnh phúc lớn lao của người khác, bản thân ta sẽ hạnh phúc. Hoà nhập với cánh đồng, tôi có niềm vui của lúa chín vàng.
(Theo Nguyễn Trọng Tạo)
Qua cách quan sát, cảm nhận về cánh đồng lúa đang chín, em thấy bạn nhỏ là người thế nào?
Câu 8:
Trao đổi về cách viết mở bài gián tiếp và kết bài mở rộng cho bài văn tả phong cảnh.
G:
– Khi viết mở bài gián tiếp, có thể bắt đầu như thế nào để dẫn vào phần giới thiệu phong cảnh?
– Khi viết kết bài mở rộng, nên mở rộng theo hướng nào?
Câu 9:
Xác định nghĩa của từ biển trong những câu thơ, câu ca dao dưới đây và cho biết nghĩa nào là nghĩa gốc, nghĩa nào là nghĩa chuyển.
c. Công cha như núi ngất trời.
Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông.
(Ca dao)
Câu 11:
Cánh đồng vàng
(Trích)
Tôi thả trâu ngoài bờ đê. Một mình lên ngọn đê ngồi ngắm cánh đồng. Cánh đồng vàng rực trong nắng chiều hanh hao. Cả đồng lúa đang chín tới. Hình như chúng chen lẫn nhau mà chín.
– Đừng có chen! Đừng có chen! – Những bông lúa kêu lên. Và những bông lúa khác thúc giục:
– Chín nhanh lên! Chín nhanh lên!
Tôi lắng nghe tiếng cánh đồng xôn xao. Mới đây thôi, đồng lúa phơi một màu vàng chanh, còn bây giờ nó đã rực lên một màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa.
Mặt trời càng xuống thấp, cánh đồng lúa càng dâng lên. Màu vàng dâng lên, trải ra mỗi lúc một rộng, giống như toàn bộ cánh đồng là một hồ nước mênh mông màu vàng chói. Cánh đồng bập bềnh, bập bềnh.
Mặt trời vẫn lặn chậm rãi xuống chân trời. Tôi có cảm giác mặt trời sẽ rơi xuống cánh đồng vàng. Tôi thấy mình bập bềnh trên con thuyền giữa biển màu vàng.
– Nhanh lên! Chín nhanh lên!
– Đừng có chen! Đừng có chen!
– Ai ngồi trên đê cao? Chín nhanh lên!
Tôi nghe lúa thì thầm. Tôi cũng thì thầm đáp lời chúng:
– Tôi ngồi trên đê cao. Tôi cũng đang chín với các bạn đây.
Và tôi thấy mình đang chín thật sự. Màu áo xanh của tôi đã nhuốm vàng từ bao giờ, màu vàng lấp lánh ánh hoàng hôn. Hoà nhập vào hạnh phúc lớn lao của người khác, bản thân ta sẽ hạnh phúc. Hoà nhập với cánh đồng, tôi có niềm vui của lúa chín vàng.
(Theo Nguyễn Trọng Tạo)
Cánh đồng lúa hiện ra như thế nào qua cảm nhận của bạn nhỏ khi ngồi trên đê?
|
– Về màu sắc |
– Về âm thanh |
– Về sự chuyển động, phát triển |
Câu 12:
Năm 1962, lần đầu tiên có một nhà giáo được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Đó là thầy Nguyễn Văn Bôn, năm ấy vừa tròn 25 tuổi.
Thầy Bôn xung phong lên dạy học ở xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu từ những ngày cả xã không một ai biết tiếng phổ thông. Thầy tự tay đẵn gỗ dựng một lớp học, có đủ bàn ghế cho 40 học sinh.
Ngày khai giảng, cả lớp chỉ có một hộp phấn và một quyển sách vỡ lòng. Thầy viết lên bảng, tiếng trẻ đọc vang khắp bản, người lớn cũng tò mò kéo đến xem. Những buổi học đầu tiên, chưa có giấy bút, các em tập viết vào tàu lá chuối bằng những chiếc bút gỗ tự tạo. Thầy nhặt bưởi rừng về làm bóng cho các em chơi, dạy các em múa, hát, diễn kịch; tổ chức cho các em làm nương, bán thóc lấy tiền mua sắm đồ dùng. Dần dần, trường mua được ra đi ô, máy nghe đĩa, đèn chiếu, rồi mua cả trâu bò làm nương. Đội văn nghệ của trường được mời đi diễn ở nhiều nơi.
Để giúp dân xoá nạn mù chữ, thầy Bôn đề nghị mỗi bản chọn ra một, hai thanh niên đến học rồi về dạy cho những người khác. Người dân bận đi chăn trâu, không đến lớp được, thầy Bôn tổ chức viết chữ lên lưng trâu cho họ học. Chính nhờ những nỗ lực đó, năm 1963, Mù Cả là xã duy nhất ở rẻo cao phía Bắc được công nhận là xã xoá xong nạn mù chữ. Học trò của thầy Bôn sau này có nhiều người thành đạt, có những cống hiến quan trọng cho miền phên giậu của Tổ quốc.
Theo Đỗ Doãn Hoàng
Thầy Nguyễn Văn Bôn gặp những khó khăn gì ở nơi dạy học?
Câu 13:
Viết 1 – 2 câu có sử dụng dấu gạch ngang với một trong những công dụng sau:
a. Đánh dấu các ý liệt kê.
b. Nối các từ ngữ trong một liên danh.
c. Đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích.
Câu 14:
Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Để 1: Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc của em về một bài thơ thuộc chủ điểm Thế giới tuổi thơ.
Để 2: Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc của em về một bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên.
Chuẩn bị.
a. Lựa chọn bài thơ theo yêu cầu của đề 1 hoặc đề 2.
b. Đọc bài thơ, ghi ngắn gọn những điều em yêu thích ở bài thơ.
Câu 15:
Xác định điệp từ, điệp ngữ trong đoạn thơ dưới đây và nêu tác dụng của biện pháp. điệp từ, điệp ngữ đó.
Nếu thế giới không có trẻ con
Ai sẽ dạy bông hoa học nói
Ai sẽ tô biển hoa màu vàng
Ai sẽ nhốt hương thơm vào túi?
(Thục Linh)


