Câu hỏi:
17/06/2026 521Viết bài giới thiệu về Vẻ đẹp của truyện thơ Việt Nam là một trong số những hoạt động mà Câu lạc bộ Văn học trường em tổ chức nhằm khuyến khích học sinh tìm hiểu truyện thơ dân tộc. Để hưởng ứng hoạt động ấy, em hãy chọn một đoạn trích trong một truyện thơ mà mình yêu thích để viết bài phân tích và gửi cho câu lạc bộ.
Trả lời:
Giải bởi Vietjack
Bước 1: Chuẩn bị trước khi viết
- Trước khi viết, cần trả lời những câu hỏi sau:
+ Đề tài của bài viết này là gì?
+ Thực hiện bài viết này nhằm mục đích gì?
+ Người đọc bài viết có thể là ai? Họ mong đợi điều gì từ bài viết của em?
+ Lựa chọn cách viết như thế nào cho phù hợp với mục đích và đối tượng người đọc?
+ Xác định (những) cách thu thập tư liệu cho bài viết (xem lại Bài 2). Chú ý tính chính xác, đáng tin cậy của tư liệu và ghi chép nguồn tư liệu.
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý
Vận dụng cách tìm ý, lập dàn ý cho bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học đã học ở Bài 2 để tìm ý và lập dàn ý cho đề bài này. Để nhận ra nét đặc sắc về nghệ thuật của một tác phẩm truyện thơ, cần chú ý đặc điểm hình thức của thể loại truyện thơ (xem lại nội dung phần Tri thức Ngữ văn của bài học này).
Bước 3: Viết bài
- Triển khai bài viết dựa trên dàn ý. Khi viết, cần chú ý:
+ Thực hiện theo những nội dung đã được đề cập ở bước Viết bài của Bài 2.
+ Vận dụng kiến thức về các kiểu đoạn văn đã học ở lớp 8 để tạo lập đoạn văn, viết đoạn có câu chủ đề hiện rõ (đoạn diễn dịch, đoạn quy nạp, đoạn phối hợp) và dùng câu chủ đề để trình bày luận điểm của bài viết.
+ Vận dụng kiến thức về các phép liên kết trong văn bản đã học ở lớp 7 để tạo sự mạch lạc, liên kết chặt chẽ cho bài viết.
Bài viết tham khảo:
Nguyễn Du là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Ông để lại cho đời sau “Truyện Kiều”, một trong những tác phẩm văn học xuất sắc nhất của đất nước. Thông qua bi kịch của cuộc đời Thúy Kiều ông đã phản ánh hiện thực xã hội bấy giờ cùng những ước mơ, khát vọng của nhân dân. Đoạn trích miêu tả Kiều ở lầu Ngưng Bích chính là đoạn thơ tiêu biểu nhất cho bút pháp nghệ thuật tài hoa của Nguyễn Du, đồng thời thể hiện tình cảm với số phận của nhân vật Thúy Kiều.
Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều tủi nhục định tự vẫn. Nhưng Tú Bà với bản chất mưu mô đã giả vờ hứa chờ Kiều bình phục sẽ gả Kiều đi ở một nơi tử tế rồi đưa giam lỏng nàng ở lầu Ngưng Bích để thực hiện âm mưu mới.
Đoạn trích có hình thức nghệ thuật vô cùng ấn tượng. Nguyễn Du đã sử dụng triệt để bút pháp tả cảnh ngụ tình. Đầu tiên đoạn trích mở đầu bằng khung cảnh hoang vắng ở lầu Ngưng Bích:
“Trước lầu Ngưng Bích khóa Xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
Tuổi xuân, độ tuổi tươi đẹp nhất của người con gái nhưng Kiều lại đang bị giam lỏng không khác gì kiềm hãm sức sống của nàng. Lầu Ngưng Bích vốn là một nơi có phong cảnh tuyệt đẹp, khung cảnh hữu tình thơ mộng được thể hiện qua các từ ngữ “non xa”, “trăng gần”, “cát vàng cồn nọ”, “bụi hồng”, “dặm kia”. Tuy nhiên từ xưa đến nay “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Trong tình cảnh bị giam cầm và tha hương cô đơn như thế, Kiều nhìn khung cảnh với con mắt buồn thảm vắng lặng, nhìn trăng nàng chỉ thấy đơn côi, nhìn đất thì chỉ thấy bụi mù thấp thoáng phía xa. “Mây sớm đèn khuya” như mô tả vòng lặp thời gian nơi lầu xanh giam giữ Kiều, ngày qua ngày trôi đi trong sự vắng bóng, buồn tủi. Bút pháp tả cảnh ngụ tình đã làm rất tốt sự đối lập “như chia tấm lòng”: cảnh đẹp nơi lầu Ngưng Bích đối lập với tâm trạng u buồn của Kiều, cảnh vật tuy đẹp nhưng vắng bóng người ấy càng làm nổi bật sự đau khổ trong lòng người con gái hồng nhan bạc mệnh.
Cảnh vật đơn côi còn làm nàng nhớ người yêu da diết:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?”
Nàng nhớ về Kim Trọng – người đã cùng nàng ước nguyện nên duyên vợ chồng dưới ánh trăng sáng năm xưa. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm làm người đọc cảm nhận được nỗi nhớ đầy da diết, sâu lắng ấy. Nàng thấy đau đớn xót xa khi nghĩ tới việc chàng vẫn đang đợi nàng, và không biết rằng đến bao giờ mới có thể gột rửa những ô uế của bản thân để trở về và nhận lại thứ tình cảm ấy, sự xót xa bật thành câu hỏi tu từ không lời đáp “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?”.
Nàng còn nhớ về cha mẹ, gia đình của mình:
“Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”
Ngôn ngữ độc thoại kết hợp cùng các điển tích, điển cố “Sân Lai”, “gốc tử” đã diễn tả nỗi nhớ mong cha mẹ cứ lớn dần theo năm tháng. Kiều thương cho cha mẹ mình ngày đêm lo lắng, trông ngóng con, nàng lo cho cha mẹ già yếu ở nhà không ai chăm sóc, phụng dưỡng. Dù ở trong cảnh lưu lạc nơi đất khách, bị lừa dối nhưng nàng không nghĩ tới bản thân mà chỉ lo lắng cho những người thân yêu. Nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Du còn khắc họa phẩm chất cao đẹp, lòng hiếu thảo của Thúy Kiều.
Tiếp đến, bút pháp tả cảnh ngụ tình lại tiếp tục được sử dụng để nàng bộc lộ cảm xúc thông qua cảnh nơi lầu Ngưng Bích:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
Cảnh hoàng hôn nơi bể lớn càng gợi tâm trạng cô đơn lẻ bóng cùng nỗi nhớ nhà của nàng. Các từ ngữ “thấp thoáng”, “xa xa” diễn tả sự lẻ loi, đơn độc giống như tình cảnh của Kiều bây giờ. Cánh hoa mỏng manh dập dìu trong dòng nước bé nhỏ giống như chính thân phận Kiều trong xã hội cũ, dù có đức có tài, có xinh đẹp tới nhường nào nhưng vì là phận phụ nữ, bị đồng tiền và quyền lực vùi dập để phải chịu biết bao bi kịch. Màu xanh vốn là màu của hy vọng nhưng nay chỉ là một màu cỏ chực úa tàn, giống như niềm tin đang dần cạn với nỗi xót xa cho thân phận ngày càng dâng cao trong Thúy Kiều. Âm thanh của tiếng sóng vỗ ầm ầm trong cảnh gió cuốn mặt dềnh giống như báo hiệu một tương lai đầy sóng gió phía trước. Điệp từ “Buồn trông” tựa như tiếng thở dài, kết hợp cùng nhịp thơ trầm càng nhấn mạnh nỗi buồn khi Kiều đang bị giam lỏng nơi lầu xanh.
Bên cạnh đó, đoạn thơ mang giá trị nội dung sâu sắc. Mượn câu chuyện tâm trang của nàng Kiều tài hoa nhưng số phận long đong, Nguyễn Du đã phần nào thể hiện nỗi xót thương thân phận người phụ nữ, phản ánh hiện thực xã hội thối nát lợi dụng mọi thủ đoạn, địa vị, tiền bạc mà chà đạp lên quyền tự do, khát vọng sống của họ.
Có thể nói “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đoạn trích hay nhất của “Truyện Kiều”, thể hiện các bút pháp nghệ thuật đạt đến trình độ hoàn hảo cùng tư tưởng nhân đạo của đại thi hào Nguyễn Du.
Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm
- Đọc lại bài viết của mình và dùng bảng kiểm ở Bài 2 để tự chỉnh sửa.
- Đọc lại bài viết từ góc độ người đọc và trả lời các câu hỏi sau:
+ Điều em thích nhất và điều em muốn điều chỉnh ở bài viết này là gì?
+ Từ bài viết này, em rút thêm được kinh nghiệm gì về việc viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học?
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Câu 1:
Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản Bài phát biểu của Tổng Thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
Câu 2:
Viết đoạn văn (khoảng 7-9 câu) đánh giá về khả năng gợi lên niềm đam mê khám phá thắng cảnh, di tích Yên Tử của văn bản Yên Tử, núi thiêng.
Câu 3:
Nhan đề Tình sông núi có thể cho biết điều gì về cảm hứng sáng tác bài thơ của tác giả Trần Mai Ninh?
Câu 4:
Xác định (các) điển tích, điển cố trong đoạn trích sau và nêu tác dụng của việc sử dụng (các) điển tích, điển cố này:
Đoạn rồi nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng:
- Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.
(Nguyễn Dữ, Chuyện người con gái Nam Xương)
Câu 5:
Xác định câu đơn và câu ghép trong đoạn văn sau:
Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8 - 8- 1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí trên khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người, không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thầy, không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên Trái Đất. Nguy cơ ghê gớm đó đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clót, về lí thuyết có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa, và phá huỷ thế thăng bằng của Hệ Mặt Trời.
(G.G. Mác-két, Đấu tranh cho một thế giới hoà bình)
Câu 6:
Năng lượng hạt nhân khi không dùng để sản xuất vũ khí hủy diệt có thể trở thành nguồn năng lượng có ích cho nhân loại. Tìm hiểu những lợi ích của năng lượng hạt nhân và thiết kế sản phẩm sáng tạo để giới thiệu thông tin này trên góc truyền thông của lớp.
Câu 7:
Văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm có quan hệ với nhau như thế nào? Nêu rõ điểm tương đồng và khác biệt của hai bộ phận văn học này trong thời kì trung đại.
Câu 8:
Đọc câu sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Chính Thái Tông khi nhắc lại câu nói của Phù Vân quốc sư, đã gọi ông là Trúc Lâm đạo sĩ.
(Theo Thi Sảnh, Yên Tử, núi thiêng)
a. Xác định căn cứ để xếp các câu trên vào kiểu câu chủ động.
b. Biến đổi cấu trúc của câu từ chủ động thành bị động theo hai hướng:
- Hoán đổi vị trí các cụm từ chỉ đối tượng của hoạt động và chủ thể của hoạt động, có sử dụng từ được.
- Sử dụng từ được nhưng lược bỏ cụm từ chỉ chủ thể của hoạt động.
Câu 9:
Nêu nội dung cụ thể của từng đoạn trong bài thơ Tình sông núi và khái quát mạch cảm xúc xuyên suốt tác phẩm.
Câu 10:
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trả lời câu hỏi: Phải chăng nhân loại không còn cách gì để đối phó với tình trạng Trái Đất ngày càng nóng lên?
Câu 11:
Nền văn học viết Việt Nam đã hình thành và phát triển qua những thời kì nào? Nêu rõ nguồn gốc, đặc điểm của chữ viết và thể loại ở từng thời kì.
Câu 12:
Tìm đọc một số văn bản nghị luận xã hội viết về những vấn đề có liên quan đến trách nhiệm của con người với cộng đồng, đất nước, nhân loại; một số văn bản thông tin giới thiệu danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. Ghi vào nhật kí đọc sách những thông tin quan trọng mà em thu nhận được từ các văn bản đã đọc.
Câu 13:
Cho biết tác dụng của việc dùng trạng ngữ trong những câu sau:
a. Giữa những cánh cung núi trùng điệp của khu Đông Bắc mênh mông, Yên Tử cao 1 068 m, vút lên chon von tựa một vọng gác.
(Theo Thi Sảnh, Yên Tử, núi thiêng)
b. Sau khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời và đi liền với nó, hệ thống chùa tháp mọc lên chi chít, thì Yên Tử càng thêm quyến rũ du khách bốn phương.
(Theo Thi Sảnh, Yên Tử, núi thiêng)
Câu 14:
Phân tích những nét độc đáo của bài thơ Tình sông núi trên phương diện nghệ thuật (chú ý nhịp điệu, cách sử dụng động từ, sự phối hợp giữa miêu tả cụ thể và nêu mệnh đề khái quát, sự xuất hiện của câu hỏi tu từ,…).
Câu 15:
Yếu tố biểu cảm đã được tác giả sử dụng như thế nào? Yếu tố đó đóng vai trò gì trong việc làm tăng tính hấp dẫn của văn bản Yên Tử, núi thiêng?
