Tìm kiếm
Chương 2 Quyết định 3031/1997/QĐ-BNNPTNT: NỘI DUNG XÁC ĐỊNH RANH GIỚI VÀ CẮM MỐC CÁC LOẠI RỪNG
| Số hiệu: | 3031/1997/QĐ-BNNPTNT | Loại văn bản: | Quyết định |
| Nơi ban hành: | Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn | Người ký: | Nguyễn Văn Đẳng |
| Ngày ban hành: | 20/11/1997 | Ngày hiệu lực: | 05/12/1997 |
| Ngày công báo: | *** | Số công báo: | |
| Lĩnh vực: | Tài nguyên - Môi trường | Tình trạng: | Hết hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Các vườn quốc gia;
2. Các khu bảo tồn thiên nhiên;
3. Khu rừng văn hoá lịch sử;
4. Khu rừng cảnh quan;
6. Các khu rừng tự nhiên hiện còn và thảm thực vật kề cận đang khoanh nuôi phục hồi thành rừng tự nhiên trong rừng sản xuất;
7. Các khu rừng tự nhiên hiện còn trong vùng đệm của rừng đặc dụng;
8. Các khu rừng tự nhiên hiện còn trong phân khu phòng hộ ít sung yếu của rừng phòng hộ tập trung.
9. Các khu rừng tự nhiên chưa được phân loại và chưa giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng;
Chỉ cắm mốc các khu rừng nêu trong khoản 6, 7, 8, 9 trên đây có diện tích như quy định tại Điều 1.
Chỉ cắm mốc các khu rừng nêu trong khoản 6, 7, 8, 9 trên đây có diện tích như quy định tại Điều 1.
1. Đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ.
Ở những nơi đã có các văn bản pháp lý như quy định trong Điều 3 thì căn cứ vào bản đồ tiến hành xác định ranh giới trên thực địa. Nếu ranh giới trên bản đồ phù hợp với ranh giới hiện đang quản lý trên thực địa thì tiến hành cắm mốc. Nếu không phù hợp thì tiến hành bổ sung hoặc chỉnh lý sau đó mới tiến hành cắm mốc.
2. Đối với các khu rừng tự nhiên
a. Nơi đã có các văn bản pháp lý thì căn cứ vào bản đồ quy hoạch kết hợp với bản đồ kiểm kê rừng nếu có để tiến hành xác định ranh giới và cắm mốc trên thực địa.
b. Nơi chưa có các văn bản pháp lý hoặc đã có nhưng không còn phù hợp thì Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan, Uỷ ban nhân dân huyện, xã thực hiện việc xác định ranh giới và cắm mốc, sau đó chuyển giao kết quả và hồ sơ khu rừng cho Uỷ ban nhân dân nơi có rừng, cơ quan kiểm lâm và cơ quan nông nghiệp và PTNT để quản lý.
Việc bổ sung và chỉnh lý được thực hiện khi có sự khác nhau về ranh giới trên bản đồ và ranh giới thực địa, cụ thể như sau:
1. Đối với sự khác nhau có liên quan đến nội dung văn bản pháp lý; như chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thay đổi địa giới hành chính, hoặc ranh giới chưa được xác định rõ thì phải giải quyết xong rồi mới được cắm mốc.
2. Đối với sự khác nhau thuộc lĩnh vực kỹ thuật sẽ được xử lý như sau:
a. Bản đồ đúng nhưng ranh giới thực địa chưa rõ thì chỉnh lý lại ranh giới thực địa cho phù hợp với bản đồ.
b. Bản đồ chất lượng kém thì xác định mốc giới tại thực địa sau đó chỉnh lý lại bản đồ.
c. Cả bản đồ và thực địa đều sai so với văn bản pháp lý thì dựa vào ranh giới được mô tả trong các văn bản pháp lý chỉnh sửa lại ranh giới trên thực địa, sau đó đo vẽ lại thực địa và bổ sung vào bản đồ.
3. Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định việc điều chỉnh khi có sự khác nhau về ranh giới xảy ra trong các đơn vị thuộc quyền quản lý của mình. Đối với các trường hợp khác nhau về ranh giới xảy ra ở các đơn vị do Trung ương quản lý thì Uỷ ban nhân dân tỉnh báo cáo Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp giải quyết, hoặc trình Chính phủ quyết định.
Do yêu cầu sử dụng lâu dài nên mốc, bảng phải làm bằng bê tông cốt thép mác 200 đảm bảo bền vững, chắc chắn.
1. Mốc cấp 1: Có tiết diện hình chữ nhất, kích thước mốc: 100 x 30 x 12 cm có đế (chi tiết xem phụ lục) dùng để cắm mốc giới các khu rừng đặc dụng; mốc giới các khu rừng phòng hộ tập trung.
2. Bảng: Bảng có kích thước theo phụ lục của quy chế này, bảng dùng để cắm ở cửa rừng của các khu rừng đặc dụng, khu rừng phòng hộ, nơi có đường giao thông qua lại hoặc nơi gần các khu dân cư, nơi rừng đang bị chặt phá lấn chiếm mạnh.
3. Mốc cấp 2: Có tiết diện hình vuông, kích thước mốc: 100 x 15 x 15 cm, có đế (chi tiết xem phụ lục) dùng cắm mốc giới các khu từng tự nhiên còn lại.
1. Mốc được chôn cố định xuống đất trên đường ranh giới đảm bảo bền vững chắc chắn, phần nổi trên mặt đất cao 50 cm, mặt ghi số hiệu mốc và tên khu rừng quay ra phía ngoài.
2 Khi có sự chung nhau đường ranh giới giữa loại rừng đặc dụng, phòng hộ với rừng sản xuất thì cắm mốc cấp 1 nhưng trên 2 mặt của mốc ghi nội dung theo đúng quy định, phù hợp với từng loại rừng.
3. Khi đường ranh giới phân chia khu rừng là các dạng địa hình dễ nhận biết như đường sá, sông suối hoặc các dông núi ở nơi không có hoặc ít người qua lại thì chỉ cần mô tả rõ đặc điểm chi tiết địa hình trong hồ sơ ranh giới khu rừng mà không cần cắm mốc.
4. Tại các vị trí đổi hướng của đường ranh giới, nơi không có địa hình đặc trưng, khó phân định ranh giới thì nhất thiết phải cắm mốc.
Quy định về khoảng cách giữa các mốc như sau:
1. Đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ:
- Trên đường ranh giới bao quanh khu rừng đóng mốc cấp 1 với cự ly không quá 2.000 mét.
- Đối với những nơi giáp khu dân cư có nhiều nguy cơ bị xâm phạm, nơi ranh giới khó nhận biết do có quá ít các chi tiết địa hình, địa vật như vùng đồi bát úp hoặc đất bằng ven biển, cự ly các mốc không quá 1.000 mét.
Bảng cắm trên đường ranh giới khu rừng đặc dụng, khu rừng phòng hộ ở những vùng giáp ranh, nơi tiếp giáp khu dân cư, nơi có đường giao thông qua lại hoặc nơi có rừng đang bị chặt phá, lấn chiếm mạnh.
2. Đối với các khu rừng tự nhiên: Cắm mốc cấp 2 với cự ly không quá 2.000 mét.
- Khi khu rừng có diện tích dưới 10 ha chỉ cắm bảng ở nơi có đường giao thông qua lại.
3. Trường hợp xác định đường ranh giới các khu rừng trùng với đường địa giới hành chính hoặc các ranh giới tự nhiên như sông suối, dông núi v.v... thì được phép sử dụng đường địa giới hành chính hoặc các ranh giới tự nhiên đó nhưng phải mô tả rõ việc sử dụng đường địa giới hành chính hoặc các ranh giới tự nhiên đó trong hồ sơ mốc giới của khu rừng.
Phần mốc nổi trên mặt đất sơn màu trắng, chữ số được ghi bằng chữ in hoa đều nét, khắc chìm sau đó tô bằng sơn đỏ bền màu và rõ với các nội dung sau đây:
1. Mốc cấp 1: Hai hàng trên ghi tên khu rừng, hàng thứ 3 ghi số hiệu mốc.
2. Mốc cấp 2: Hai hàng trên ghi số hiệu tiểu khu (hoặc xã) và số hiệu khu rừng tự nhiên. Số hiệu khu rừng tự nhiên được đánh theo trình tự từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông trong một tiểu khu hoặc xã, hàng thứ 3 ghi số hiệu mốc.
3. Bảng: Phải vẽ sơ đồ khu rừng thể hiện các địa vật định hướng chính và các khu tiếp giáp, bên phải ghi tên khu rừng và nội dung yêu cầu quản lý - bảo vệ.
Vị trí và nội dung ghi trên mốc chỉ được phép thay đổi hoặc điều chỉnh khi có những thay đổi về loại rừng được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
1- Kết quả của việc xác định ranh giới và cắm mốc được thể hiện trong tập hồ sơ ranh giới khu rừng bao gồm:
a- Sơ đồ ranh giới toàn khu rừng.
b- Bản mô tả ranh giới.
c- Sơ đồ vị trí mốc.
2- Hồ sơ ranh giới khu rừng do chủ rừng lập, phải có xác nhận của các cơ quan liên quan và phải được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt.
Kinh phí xác định ranh giới và cắn mốc do ngân sách nhà nước đảm bảo.
1- Đối với các khu rừng đặc dụng và khu rừng phòng hộ trực thuộc Bộ thì chủ rừng lập dự toán kinh phí xác định ranh giới và cắm mốc cho toàn khu rừng trong đó có phần do đơn vị đầu tư, phần báo cáo Bộ Nông nghiệp và PTNT tổng hợp, đề nghị Bộ Tài chính cấp.
2. Đối với các khu rừng đặc dụng và khu rừng phòng hộ thuộc tỉnh quản lý thì chủ rừng lập dự toán kinh phí báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh và Sở Tài chính trong đó phần đầu tư do ngân sách tỉnh cấp và phần đề nghị Bộ Tài chính cấp.
3. Đối với rừng sản xuất thuộc các doanh nghiệp Nhà nước thì chủ rừng lập dự toán kinh phí xác định ranh giới và cắm mốc báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc Bộ chủ quản cùng với cơ quan tài chính cùng cấp xem xét quyết định.
4. Đối với rừng tự nhiên chưa giao cho chủ cụ thể thì Sở Nông nghiệp và PTNT lập dự toán kinh phí xác định ranh giới và cắm mốc, báo cáo UBND tỉnh, Sở Tài chính giải quyết.
