Quy chế này áp dụng cho việc xác định ranh giới và cắm mốc đối với các loại rừng và đất rừng sau đây:
1. Rừng đặc dụng: Toàn bộ diện tích rừng và đất chưa có rừng của các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng văn hoá lịch sử và cảnh quan.
2. Rừng phòng hộ: Bao gồm toàn bộ diện tích rừng và đất chưa có thuộc phân khu phòng hộ rất xung yếu và phân khu phòng hộ xung yếu của rừng phòng hộ tập trung.
3. Rừng sản xuất: Chỉ xác định ranh giới và cắm mốc cho các khu rừng tự nhiên hiện còn và diện tích thảm thực vật kề cận đang khoanh nuôi phục hồi thành rừng tự nhiên.
4. Các khu rừng tự nhiên hiện còn trong vùng đệm của rừng đặc dụng, trong phân khu phòng hộ ít xung yếu, trong khu rừng chưa phân loại và chưa giao cho tổ chức, cá nhân quản lý sử dụng.
Để thống nhất khi áp dụng, trong quy chế này cụm từ "Khu rừng tự nhiên" chỉ tất cả các khu rừng nêu trong khoản 3 và khoản 4 của điều này và chỉ xác định ranh giới và cắm mốc cho những khu rừng có diện tích từ 10 ha trở lên, các khu rừng có diện tích dưới 10 ha nếu cần thiết chỉ cắm bảng.