Chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp ấy có trách nhiệm thành lập Hội đồng bầu cử có từ năm đến hai mươi mốt người gồm đại diện các tổ chức xã hội và tập thể cử tri ở địa phương.
Hội đồng bầu cử bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký.
Danh sách Hội đồng bầu cử tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương phải báo cáo lên Hội đồng Nhà nước, Hội đồng bộ trưởng và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc. Danh sách Hội đồng bầu cử các cấp khác phải báo cáo lên Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.
Hội đồng bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
1- Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong địa phương;
2- Xét và giải quyết những khiếu nại về công tác bầu cử của các Ban bầu cử và Tổ bầu cử;
3- Nhận hồ sơ, nhận và công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, xét và giải quyết những khiếu nại về việc lập danh sách đó;
4- Nhận tài liệu và phiếu bầu cử của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử;
5- Nhận và kiểm tra biên bản bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến, làm biên bản ghi kết quả cuộc bầu cử trong địa phương;
6- Công bố kết quả cuộc bầu cử;
7- Chuyển giao biên bản tổng kết bầu cử cho Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và cấp trên trực tiếp; nếu là cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, thì chuyển giao biên bản tổng kết bầu cử cho Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, đồng thời gửi lên Hội đồng Nhà nước, Hội đồng bộ trưởng và Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; chuyển giao hồ sơ tài liệu về cuộc bầu cử cho Uỷ ban nhân dân cùng cấp.