Tìm kiếm
Chương IV Bộ Luật hình sự 1999: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự
| Số hiệu: | 15/1999/QH10 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Quốc hội | Người ký: | Nông Đức Mạnh |
| Ngày ban hành: | 21/12/1999 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2018 |
| Ngày công báo: | 29/02/2000 | Số công báo: | Số 8 |
| Lĩnh vực: | Trách nhiệm hình sự | Tình trạng: | Hết hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:
a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;
b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;
c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;
d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.
Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ.
1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
2. Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
3. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá.
STATUTE OF LIMITATION FOR PENAL LIABILITY EXAMINATION,
PENAL LIABILITY EXEMPTION
Article 23.- Statute of limitation for penal liability examination
1. The statute of limitation for penal liability examination is the time limit prescribed by this Code upon the expiry of which the offender shall not be examined for penal liability.
2. The statute of limitation for penal liability examination is stipulated as follows:
a) Five years for less serious crimes;
b) Ten years for serious crimes;
c) Fifteen years for very serious crimes;
d) Twenty years for particularly serious crimes.
3. The statute of limitation shall begin from the date a crime is committed. If within the time limit prescribed in Clause 2 of this Article, the offender commits a new crime for which this Code stipulates a maximum penalty of over one year, the time already past must not be counted and the statute of limitation for the previous crime shall be re-calculated from the date the new crime is committed.
If within the above-said time limit, the offender deliberately flees and is being hunted for by warrant, the time of fleeing away must not be counted and the statute of limitation shall be re-calculated from such time the person gives him/herself up or is arrested.
Article 24.- Non-application of statute of limitation for penal liability examination
The statute of limitation for penal liability examination prescribed in Article 23 of this Code shall not apply to crimes provided for in Chapter XI and Chapter XXIV of this Code
Article 25.- Penal liability exemption
1. An offender shall be exempt from penal liability if during the investigation, prosecution or trial, due to a change of situation, the act of criminal offense of the offender is no longer dangerous to the society.
2. If before the act of criminal offense is detected, the offender gives him/herself up and clearly declares and reports facts, thus effectively contributing to the detection and investigation of the crime and trying to minimize the consequences of the crime, he/she may also be exempt from penal liability.
3. Offenders shall be exempt from penal liability when there are decisions on general amnesties.
Cập nhật
Bài viết liên quan
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với đối tượng nào theo BLHS mới nhất 2025?
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với đối tượng nào theo BLHS mới nhất 2025?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, hình phạt tử hình được xem là hình phạt nghiêm khắc nhất, chỉ áp dụng đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm bảo vệ lợi ích tối cao của xã hội. Tuy nhiên, nhằm thể hiện tinh thần nhân đạo và phù hợp với xu hướng tiến bộ của pháp luật quốc tế, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rõ các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình. Việc xác định những đối tượng được miễn áp dụng hình phạt này không chỉ phản ánh chính sách hình sự khoan hồng mà còn đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự. Vậy, theo quy định mới nhất, những đối tượng nào không bị áp dụng hình phạt tử hình? Bài viết dưới đây sẽ làm rõ vấn đề này. 26/05/2025Hành vi nguy hiểm cho xã hội không đáng kể có được coi là tội phạm hình sự?
Hành vi nguy hiểm cho xã hội không đáng kể có được coi là tội phạm hình sự?
Không phải mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị coi là tội phạm hình sự. Trong thực tiễn đời sống, có nhiều hành vi tuy trái pháp luật nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội rất thấp, thiệt hại gây ra không lớn và không cần thiết phải xử lý bằng biện pháp hình sự. Pháp luật hình sự Việt Nam vì thế đã đặt ra nguyên tắc phân định rõ giữa tội phạm và các hành vi vi phạm hành chính hay dân sự. Vậy hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng ở mức độ không đáng kể có bị coi là tội phạm hay không? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng tìm hiểu trong nội dung dưới đây. 26/05/20257 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội theo chuẩn Bộ luật hình sự mới nhất 2025
7 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội theo chuẩn Bộ luật hình sự mới nhất 2025
Trong Bộ luật Hình sự mới nhất (năm 2025), việc xử lý người phạm tội được đặt trên cơ sở chặt chẽ và nhất quán nhằm đảm bảo công lý, phòng ngừa tội phạm và bảo vệ trật tự pháp luật. Theo đó, 7 nguyên tắc xử lý hình sự là kim chỉ nam quan trọng, định hướng cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt. Các nguyên tắc này không chỉ thể hiện tính nhân đạo, khách quan và công bằng của pháp luật hình sự, mà còn giúp cân bằng giữa quyền lợi của Nhà nước, xã hội và người phạm tội. 26/05/20253 giai đọan thực hiện tội phạm theo Bộ luật Hình sự mới nhất 2025
3 giai đọan thực hiện tội phạm theo Bộ luật Hình sự mới nhất 2025
Trong khoa học luật hình sự và theo quy định tại Bộ luật Hình sự hiện hành (cập nhật đến năm 2025), quá trình thực hiện tội phạm thường được chia thành ba giai đoạn chính. chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và phạm tội hoàn thành. Mỗi giai đoạn phản ánh mức độ nguy hiểm khác nhau của hành vi đối với xã hội, từ ý định đến hành động và hậu quả cụ thể. Việc phân biệt rõ các giai đoạn này không chỉ giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định đúng bản chất của hành vi vi phạm, mà còn là căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt phù hợp với từng trường hợp cụ thể. 26/05/2025Mặt khách quan, chủ quan của tội phạm xác định thế nào theo Bộ luật Hình sự mới nhất 2025
Mặt khách quan, chủ quan của tội phạm xác định thế nào theo Bộ luật Hình sự mới nhất 2025
Mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm là hai yếu tố quan trọng trong cấu thành tội phạm, đóng vai trò quyết định trong việc xác định hành vi có đủ dấu hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành (cập nhật đến năm 2025), việc phân tích mặt khách quan giúp làm rõ hành vi cụ thể, hậu quả, mối quan hệ nhân quả và các yếu tố khác như công cụ, phương tiện, địa điểm, thời gian phạm tội. Trong khi đó, mặt chủ quan tập trung vào yếu tố lỗi, động cơ và mục đích của người phạm tội. Việc nhận diện đầy đủ, chính xác các yếu tố này có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong công tác điều tra, truy tố, xét xử mà còn trong việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và định hướng chính sách hình sự phù hợp. 26/05/2025Chủ thể, khách thể tội phạm xác định thế nào theo Bộ luật Hình sự mới nhất 2025
Chủ thể, khách thể tội phạm xác định thế nào theo Bộ luật Hình sự mới nhất 2025
Chủ thể và khách thể là hai yếu tố cơ bản cấu thành tội phạm, giữ vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự. Theo quy định mới nhất của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung đến năm 2025), việc phân tích rõ chủ thể và khách thể của tội phạm giúp cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, đồng thời đảm bảo xử lý người phạm tội một cách công bằng, đúng pháp luật. Trong phần dưới đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chi tiết về cách xác định chủ thể và khách thể theo các quy định hiện hành. 26/05/2025Tội phạm là gì? 4 yếu tố cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự mới nhất 2025
