Câu hỏi:
17/06/2026 386Trao đổi với các bạn về:
- Chủ đề, không gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính, lời người kể chuyện của một truyện truyền kì đã đọc.
- Chủ đề, một số yếu tố thi luật của thơ song thất lục bát như: vần, nhịp, số chữ, số dòng trong một khổ thơ thể hiện qua bài thơ đã đọc.
- Chủ đề và một số yếu tố của truyện thơ Nôm thể hiện trong tác phẩm đã đọc như: cốt truyện, nhân vật, lời thoại.
Trả lời:
Giải bởi Vietjack
Một truyện truyền kì đã đọc: Thánh Gióng.
- Chủ đề, không gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính, lời người kể chuyện của truyện truyền kì Thánh Gióng:
+ Chủ đề: Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, sức mạnh của người dân và sự bất diệt của ý chí bảo vệ Tổ quốc.
+ Không gian: làng quê, sông núi, cũng như không gian siêu nhiên, mang tính chất thần thoại.
+ Thời gian: thời kì Văn Lang – Âu Lạc.
+ Chi tiết: Gióng lớn nhanh như thổi; mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt; bay lên trời.
+ Cốt truyện: sự ra đời kì ảo của Gióng; cuộc xâm lược của quân Âu Lạc; sự trưởng thành nhanh chóng và chiến thắng vang dội của Thánh Gióng; cuối cùng là sự biến mất bí ẩn của Gióng.
+ Nhân vật chính: Thánh Gióng.
+ Lời người kể chuyện: thể hiện những đặc điểm của một câu chuyện dân gian truyền khẩu, mang màu sắc trữ tình, huyền thoại và tính chất tuyên truyền, ca tụng anh hùng dân tộc.
- Chủ đề, một số yếu tố thi luật của thơ song thất lục bát như: vần, nhịp, số chữ, số dòng trong một khổ thơ thể hiện qua bài thơ Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến):
+ Chủ đề: sự mất mát, nỗi đau, triết lí về cuộc sống và cái chết, cũng như tình bạn chân thành giữa hai con người.
+ Vần: sử dụng vần song luật, với các vần chính như: -ê, -ạc, -ình, -ời, -ũng, -ưng,… được sử dụng một cách khéo léo, góp phần tạo nên nhịp điệu và sự truyền cảm trong bài thơ.
+ Nhịp: mỗi câu trong bài thơ đều có 7 tiếng (7 chữ), tạo nên nhịp điệu đều đặn, trầm bổng. Điều này giúp bài thơ có sự cuốn hút, nhẹ nhàng và uyển chuyển.
+ Số chữ: mỗi câu trong bài thơ gồm 7 chữ, theo quy luật 7 chữ của thể song thất lục bát.
+ Số dòng: mỗi khổ thơ có 6 dòng, tuân thủ cấu trúc của thể thơ song thất lục bát.
- Chủ đề và một số yếu tố của truyện thơ Nôm thể hiện trong tác phẩm Kim – Kiều gặp gỡ (Nguyễn Du):
+ Chủ đề: tình yêu nồng nàn, say đắm của Thúy Kiều và Kim Trọng.
+ Cốt truyện: cuộc gặp gỡ định mệnh của Thúy Kiều và Kim Trọng. Những rung động mãnh liệt trong tình yêu của Kim – Kiều.
+ Nhân vật: Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúy Vân, chàng Vương.
+ Lời thoại: độc thoại nội tâm.
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Câu 1:
Phân tích cách gieo vần và cách ngắt nhịp trong bài thơ Quê hương.
Câu 3:
Nêu chủ đề của bài thơ Quê hương và một số căn cứ giúp em xác định được chủ đề.
Câu 4:
Trong bối cảnh hiện đại, khi con người phải đối mặt với nhiều vấn đề toàn cầu như dịch bệnh, sự bùng nổ của mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo,… văn chương có còn cần thiết với chúng ta không? Vì sao em cho là như vậy? Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) thể hiện suy nghĩ của em về vấn đề trên.
Câu 5:
Vẽ sơ đồ tư duy thể hiện luận đề, hệ thống luận điểm và những lí lẽ, bằng chứng tiêu biểu của mỗi luận điểm của hai văn bản: “Người con gái Nam Xương” - một bi kịch của con người và Từ “Thằng quỷ nhỏ” của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi.
Câu 6:
Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong các câu văn:
- Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng Hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.
- Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.
Câu 7:
Theo em “suốt đời hi sinh cho chồng cho con” có phải bổn phận của người phụ nữ? Hãy tìm những ví dụ trong thực tế cuộc sống để làm sáng tỏ ý kiến của mình.
Câu 8:
Viết bài văn (khoảng 300 chữ) phân tích một nét đặc sắc về nội dung hoặc nghệ thuật mà em yêu thích nhất trong bài thơ Nơi em về.
Nơi em về
Nơi em về có một chiếc tàu cau
Rơi lặng lẽ xuống vườn sương cỏ ướt
Tuổi thơ anh sớm mai nào bắt được
Tiếng xạc xào cao vút của trời xanh.
Nơi em về, xuân tím nụ vườn chanh
Hoa xoan tím, hoa lục bình cũng tím
Cành tre nhỏ có ngày chim khách đến
Tận bây giờ chờ đợi vẫn rung rung...
Nơi có ngày bắt được chú chuồn kim
Anh vặt cánh làm mồi cho lũ kiến
Nơi không biết sau nầy khi đã lớn
Anh hoá chú chuồn kim cánh mỏng ở trong đời
Nơi em về, câu mẹ hát à ơi
Anh nghe được qua lời ru bé khác
Lần qua thời gian lời ru thành nước mắt
Nước mắt đầm nhân nghĩa giữa lòng anh.
Nơi em về, mương nhỏ cỏ còn xanh
Dòng mực tím đã trôi về dĩ vãng
Vẫn còn đó hoàng hôn ngời sắc ráng
Trên cỏ nằm mắt uống những sao xa.
Nơi em về, trái thị vẫn ngày xưa
Người thương thị, thị thương người phúc hậu
Khế xuống ngọt nồi canh chua mẹ nấu
Túi ba gang vàng, góp mãi khôn đầy.
Nơi em về, mùa hạ vẫn thơ ngây
Tiếng ve hát râm ran vòm duối cổ
Ve ơi ve, mắt mày trong trẻo quá
Em thấy được gì trong mắt của ve đây?
Chiều thu vàng phấn mướp, cánh ong bay
Tiếng cục tác gà trưa đi lót ổ...
Nhà đi vắng cửa rèm bỏ ngỏ
Những sắc, thanh xa, vợi tới dâng đầy...
[…]
(NGUYỄN SĨ ĐẠI, Trái tim người lính (thơ), NXB Thanh Niên, Hà Nội, 1998)
Câu 9:
Dựa vào xung đột mà Sếch-xpia đề cập trong vở Rô-mê-ô và Giu-li-ét và thực tiễn cuộc sống, hãy viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trình bày suy nghĩ của em về khát vọng tình yêu của con người.
Câu 10:
Tìm những từ ngữ thể hiện hình ảnh dân chài và cuộc sống làng chài trong bài thơ Quê hương.
Câu 11:
Điều gì đã khiến nhân vật “tôi” chết lặng? Phân tích vai trò của chi tiết này trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm Bí ẩn của làn nước.
Câu 12:
Đọc phần (3) Phân tích bi kịch của Vũ Nương và lí giải nguyên do bi kịch xảy ra qua chi tiết cái bóng và cho biết, theo tác giả, điều gì đã khiến Vũ Nương nhảy xuống sông tự tử. Em có suy nghĩ gì về cách lí giải của tác giả?
Câu 13:
Ấn tượng sâu đậm nhất mà bài thơ Quê hương để lại trong em là gì?
Câu 14:
Đoạn văn đã phân tích (những) nét đặc sắc nào về nghệ thuật của bài thơ Tựu trường?
Câu 15:
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 5 - 7 câu) có nội dung liên quan đến ý kiến dưới đây, trích dẫn ý kiến đó theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp:
Cái tài của Nguyễn Dữ là ông đã dung hòa được hiện thực với ước mơ, giữa cái tồn tại với cái ảo ảnh.
(Nguyễn Đăng Na, “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người)
