Tìm kiếm
Chương IV Điều lệ Hội cựu chiến binh Việt Nam thông qua ngày 15/12/2017: NGUYÊN TẮC VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA HỘI
| Số hiệu: | Điều lệ Hội cựu chiến binh Việt Nam thông qua ngày 15/12/2017 | Loại văn bản: | Văn bản khác |
| Nơi ban hành: | *** | Người ký: | Chưa xác định |
| Ngày ban hành: | Đang cập nhật | Ngày hiệu lực: | *** |
| Ngày công báo: | *** | Số công báo: | |
| Lĩnh vực: | *** | Tình trạng: | Còn hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Hội Cựu chiến binh Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc là:
1. Ban chấp hành tổ chức Hội các cấp do dân chủ bầu ra bằng cách bỏ phiếu kín (trường hợp đặc biệt do ban chấp hành tổ chức Hội cấp trên trực tiếp chỉ định), thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội toàn thể hội viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Hội là Ban Chấp hành Trung ương Hội, ở mỗi cấp là ban chấp hành tổ chức Hội cùng cấp.
3. Ban chấp hành báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước ban chấp hành tổ chức Hội cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức Hội trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.
4. Tổ chức Hội và hội viên phải chấp hành nghị quyết của Hội. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Hội phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương Hội.
5. Nghị quyết của các tổ chức Hội chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong tổ chức, cơ quan đó tán thành (trừ kết nạp và khai trừ hội viên). Trước khi biểu quyết mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Hội viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên tổ chức Hội cấp trên, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Hội.
6. Ban chấp hành tổ chức Hội các cấp quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với chủ trương, đường lối của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp ủy cùng cấp và nghị quyết của tổ chức Hội cấp trên.
7. Ban chấp hành tổ chức Hội từ cấp huyện và tương đương trở lên lập cơ quan thường trực. Thành phần cơ quan thường trực bao gồm chủ tịch và các phó chủ tịch cùng cấp. Cơ quan thường trực có trách nhiệm thay mặt ban thường vụ điều hành công tác thường xuyên của Hội; triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của ban thường vụ.
1. Những tổ chức Hội mới thành lập hoặc chia tách, hợp nhất, sáp nhập trong nhiệm kỳ, ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành, ban kiểm tra và trưởng ban kiểm tra chính thức; chỉ đạo xây dựng, hoặc bổ sung nhiệm vụ cho phù hợp; nhiệm kỳ đầu tiên của các ban chấp hành này không nhất thiết phải là năm năm, để nhiệm kỳ đại hội phù hợp với nhiệm kỳ đại hội của tổ chức Hội cấp trên.
2. Số lượng ủy viên ban chấp hành cấp nào do đại hội cấp đó quyết định theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương Hội.
3. Ban chấp hành khoá mới nhận sự bàn giao từ ban chấp hành khoá trước, điều hành công việc ngay sau khi được bầu; được công nhận chính thức khi có quyết định chuẩn y của ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp.
4. Việc bổ sung ủy viên ban chấp hành thiếu, do ban chấp hành đề nghị, ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp quyết định; số lượng ủy viên ban chấp hành sau khi bổ sung không vượt quá tổng số ủy viên ban chấp hành do đại hội quyết định. Khi cần thiết, ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp được chỉ định tăng thêm một số ủy viên ban chấp hành Hội cấp dưới. Trường hợp đặc biệt, nếu xét thấy cần thiết ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp có thể ra quyết định chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, giữ chức chủ tịch, phó chủ tịch Hội cấp dưới trực tiếp sau khi thống nhất với cấp ủy lãnh đạo trực tiếp tổ chức Hội cấp dưới.
5. Ủy viên ban chấp hành Hội từ cấp tỉnh trở xuống xin rút khỏi ban chấp hành ở cấp nào do ban chấp hành cấp đó đề nghị, cấp trên trực tiếp quyết định. Đối với ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội, do Ban Chấp hành Trung ương Hội quyết định.
6. Ủy viên ban chấp hành Hội các cấp khi thôi giữ các chức vụ công tác Hội thì thôi không tham gia ban chấp hành Hội các cấp.
1. Hệ thống tổ chức Hội có bốn cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và cấp cơ sở.
2. Ở cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp được thành lập tổ chức Hội theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương Hội.
3. Hội Cựu chiến binh ở mỗi cấp đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng cùng cấp, sự chỉ đạo của ban chấp hành Hội cấp trên, phối hợp chặt chẽ với cơ quan, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, Quân đội, các đoàn thể nhân dân cấp đó và liên hệ gắn bó mật thiết với Nhân dân.
4. Hội được tổ chức dựa theo hệ thống tổ chức của Đảng; tổ chức Đảng của đơn vị trực thuộc cấp ủy nào thì tổ chức Hội của đơn vị cũng trực thuộc tổ chức Hội cấp tương ứng.
1. Đại hội cấp nào do ban chấp hành cấp đó triệu tập theo kỳ hạn quy định. Khi ban chấp hành xét thấy cần thiết hoặc khi có hơn một phần hai số tổ chức Hội trực thuộc yêu cầu và được ban chấp hành cấp trên trực tiếp đồng ý thì triệu tập đại hội bất thường.
2. Đại biểu dự đại hội gồm đại biểu do bầu cử từ cấp dưới lên và các ủy viên ban chấp hành cấp triệu tập đại hội.
Khi cần thiết ban chấp hành triệu tập đại hội được chỉ định một số đại biểu, nhưng không quá năm phần trăm tổng số đại biểu được triệu tập.
3. Sau khi ban chấp hành mới được bầu, đoàn chủ tịch đại hội ủy nhiệm từ một đến ba ủy viên trong số các ủy viên được bầu, làm nhiệm vụ triệu tập ban chấp hành mới họp phiên đầu tiên để bầu ban thường vụ, chủ tịch, các phó chủ tịch (trong ban thường vụ) và bầu ban kiểm tra, trưởng ban kiểm tra (trong số ủy viên ban kiểm tra), số lượng ủy viên ban thường vụ không quá một phần ba tổng số ủy viên ban chấp hành.
1. Đại hội đại biểu toàn quốc của Hội thường lệ năm năm một lần, có nhiệm vụ: Đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ vừa qua, quyết định phương hướng nhiệm vụ, chương trình công tác nhiệm kỳ tới, bổ sung, sửa đổi Điều lệ Hội và bầu Ban Chấp hành Trung ương Hội.
2. Ban Chấp hành Trung ương Hội có nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội, xây dựng và định hướng nội dung hoạt động, chỉ đạo các chương trình, kế hoạch hoạt động các mặt công tác của Hội giữa hai kỳ Đại hội. Ban Chấp hành Trung ương Hội đại diện cho Hội quan hệ với các cơ quan Nhà nước, với các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương, với các tổ chức xã hội trong và ngoài nước.
3. Ban Chấp hành Trung ương Hội bầu ra Ban Thường vụ, Chủ tịch, các Phó chủ tịch và Ban Kiểm tra, Trưởng Ban Kiểm tra của Hội. Số lượng ủy viên Ban Thường vụ và ủy viên Ban Kiểm tra do Ban Chấp hành Trung ương Hội quyết định.
4. Ban Chấp hành Trung ương Hội họp thường lệ sáu tháng một lần, họp bất thường khi cần. Ban Thường vụ họp thường lệ sáu tháng một lần, họp bất thường khi cần, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện nghị quyết của Ban Chấp hành.
5. Khi khuyết Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội thì hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội bầu cử bổ sung cho đủ số lượng do Đại hội đại biểu toàn quốc đã quyết định. Trường hợp cần tăng thêm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội do hội nghị Ban Chấp hành Trung ương quyết định.
1. Đại hội đại biểu Hội Cựu chiến binh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thường lệ năm năm một lần, có nhiệm vụ: Thảo luận văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Hội, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ vừa qua, quyết định nhiệm vụ nhiệm kỳ tới, bầu ban chấp hành, bầu đại biểu dự đại hội cấp trên.
2. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh tỉnh, thành phố có nhiệm vụ: Thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội và nghị quyết của đại hội cấp mình; tham gia xây dựng và cụ thể hoá các nghị quyết, chương trình, phong trào của Hội; chỉ đạo công tác của Hội ở địa phương giữa hai kỳ đại hội; đại diện cho Hội quan hệ với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội ở tỉnh, thành phố.
3. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bầu ra ban thường vụ, chủ tịch, các phó chủ tịch và bầu ban kiểm tra, trưởng ban kiểm tra.
4. Ban chấp hành họp thường lệ sáu tháng một lần, họp bất thường khi cần. Ban thường vụ họp sáu tháng một lần, họp bất thường khi cần, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện nghị quyết của ban chấp hành.
1. Đại hội đại biểu Hội Cựu chiến binh huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị tương đương thường lệ năm năm một lần, có nhiệm vụ: Thảo luận văn kiện của ban chấp hành Hội cấp trên, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ vừa qua, quyết định nhiệm vụ nhiệm kỳ tới, bầu ban chấp hành, bầu đại biểu dự đại hội cấp trên.
2. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện nghị quyết của ban chấp hành tổ chức Hội cấp trên và nghị quyết của đại hội cấp mình; hướng dẫn các tổ chức cơ sở Hội thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, phong trào của Hội; chỉ đạo công tác Hội ở địa phương giữa hai kỳ đại hội; phối hợp với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội trong các hoạt động chính trị ở địa phương.
3. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị tương đương bầu ra ban thường vụ, chủ tịch, các phó chủ tịch và bầu ban kiểm tra, trưởng ban kiểm tra.
4. Ban chấp hành họp thường lệ ba tháng một lần, họp bất thường khi cần. Những địa bàn có khó khăn đặc biệt, họp thường lệ sáu tháng một lần, do Ban Chấp hành Trung ương Hội hướng dẫn. Ban thường vụ họp ba tháng một lần, họp bất thường khi cần, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện nghị quyết của ban chấp hành.
Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương trở lên được thành lập cơ quan giúp việc theo quy định của Ban Bí thư, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương Đảng và Thường trực Trung ương Hội.
1. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh các cấp cần quan hệ chặt chẽ với các ban liên lạc truyền thống đơn vị, chiến trường và các hình thức tập hợp Cựu chiến binh, Cựu quân nhân hợp pháp khác nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của Hội trong đông đảo Cựu chiến binh, Cựu quân nhân.
2. Đối với những quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trở về (không thuộc đối tượng kết nạp vào Hội) Hội Cựu chiến binh chủ trì phối hợp với cơ quan quân sự địa phương, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các ngành chức năng cùng cấp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền bằng các hình thức thích hợp, tập hợp, bồi dưỡng, động viên anh chị em phát huy vai trò tích cực của Cựu quân nhân trong thực hiện các phong trào, các cuộc vận động ở cơ sở.
