Tìm kiếm
Chương IV Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Chấm dứt hôn nhân
| Số hiệu: | 52/2014/QH13 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Quốc hội | Người ký: | Nguyễn Sinh Hùng |
| Ngày ban hành: | 19/06/2014 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2015 |
| Ngày công báo: | 16/07/2014 | Số công báo: | Từ số 681 đến số 682 |
| Lĩnh vực: | Quyền dân sự, Văn hóa - Xã hội | Tình trạng: | Còn hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Điểm mới nổi bật của Luật hôn nhân gia đình 2014
Luật hôn nhân gia đình 2014 đã chính thức được thông qua và sẽ có hiệu lực kể từ 01/01/2015. Về cơ bản Luật này có ba điểm mới quan trọng:
Thứ nhất, nâng độ tuổi kết hôn của nữ thành đủ 18 tuổi (thay vì đủ 17 tuổi trở lên như trước). Như vậy tuổi kết hôn sẽ là từ đủ 18 tuổi trở lên đối với nữ và từ đủ 20 tuổi trở lên đối với nam.
Thứ hai, cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Việc mang thai hộ chỉ được áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện về cả người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ. Đặc biệt là người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ.
Thứ ba, quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Việc thỏa thuận phải được lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực trước khi kết hôn. Thỏa thuận này vẫn có thể được thay đổi sau khi kết hôn.
Ngoài nội dung trên, Luật hôn nhân gia đình 2014 cũng quy định thêm một số vấn đề:
- Áp dụng tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình: chỉ được áp dụng tập quán trong trường hợp pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận nhưng không được trái với các nguyên tắc, vi phạm các điều cấm tại Luật này.
- Tiếp tục không thừa nhận hôn nhân đồng tính.
- Quy định cụ thể cách giải quyết về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng các bên khi nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Không tính thời gian chung sống như vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn vào thời kỳ hôn nhân.
- Quy định về con do người vợ mang thai trong thời kỳ hôn nhân cũng được luật hóa. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ mang thai trong thời kỳ hôn nhân.
Nếu cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Toà án xác định. (Điều này đã được ghi nhận tại Nghị định 70/2001/NĐ-CP).
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.
Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.
1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Tòa án đã giải quyết ly hôn phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên ly hôn; cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này.
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.
1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.
1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.
2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:
a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;
b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;
c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;
d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.
3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này.
Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
Hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết.
Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.
1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
1. Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn. Trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.
2. Quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau:
a) Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó;
b) Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.
TERMINATION OF MARRIAGE
Article 51. The right to request settlement of divorce
1. Husband or wife or both has or have the right to request a court to settle their divorce.
2. A parent or another next of kin of a spouse has the right to request a court to settle a divorce when the spouse is unable to perceive and control his/her acts due to a mental disease or another disease and is concurrently a victim of domestic violence caused by his/her spouse which seriously harms his/her life, health or spirit.
3. A husband has no right to request a divorce when his wife is pregnant, gives birth or is nursing an under-12-month child.
Article 52. Encouragement of grassroots-level conciliation
The State and society shall encourage grassroots-level conciliation when a husband or wife requests a divorce. The conciliation must comply with the law on grassroots-level conciliation.
Article 53. Acceptance of divorce petitions
1. A court shall accept divorce petitions in accordance with the civil procedure law.
2. For a couple who has not registered their marriage but requests a divorce, the court shall accept the case and declare non-recognition of their spousal relationship under Clause 1, Article 14 of this Law; and shall settle any children- or property-related requests according to Articles 15 and 16 of this Law.
Article 54. Conciliation at court
After accepting a divorce petition, a court shall conduct conciliation in accordance with the civil procedure law.
Article 55. Divorce by mutual consent
When both spouses request a divorce, a court shall recognize the divorce by mutual consent if seeing that the two are really willing to divorce and have agreed upon the property division, looking after, raising, care for and education of their children on the basis of ensuring the legitimate interests of the wife and children. If the spouses fail to reach agreement or have reached an agreement which -fails to ensure the legitimate interests of the wife and children, the court shall settle the divorce.
Article 56. Divorce at the request of one spouse
1. When a spouse requests a divorce and the conciliation at a court fails, the court shall permit the divorce if it has grounds to believe that a spouse commits domestic violence or seriously infringes upon the rights and obligations of the husband or wife, which seriously deteriorates the marriage and makes their common life no longer impossible and the marriage purposes unachievable.
2. When the spouse of a person who is declared missing by a court requests a divorce, the court shall permit the divorce.
3. For request for a divorce under Clause 2, Article 51 of this Law, a court shall permit the divorce if it has grounds to believe that the domestic violence committed by one spouse seriously harms the life, health or spirit of the other.
Article 57. Time of termination of marriage and responsibility to send divorce judgments or decisions
1. The marriage relation shall terminate on the date a court’s divorce judgment or decision takes legally effective.
2. The court that has settled a divorce shall send the legally effective divorce judgment or decision to the agency registering such marriage for recording in the civil status register; the divorced partners; and other persons, agencies and organizations as prescribed by the Civil Procedure Code and other relevant laws.
Article 58. Rights and obligations of parents and children after divorce
The looking after, care for, raising and education of children after divorce must comply with Articles 81, 82, 83 and 84 of this Law.
Article 59. Principles of settlement of property of husband and wife upon divorce
1. The settlement of property shall be agreed upon by the concerned parties in case of applying the statutory matrimonial property regime. If they fail to reach agreement thereon, at the request of a spouse or both, a court shall settle it according to Clauses 2, 3, 4 and 5 of this Article and Articles 60, 61, 62, 63 and 64 of this Law.
In case of applying the agreed matrimonial property regime, the settlement of property upon divorce must comply with such agreement. In case the agreement is insufficient or unclear, the settlement must comply with corresponding provisions of Clauses 2, 3, 4 and 5 of this Article and Articles 60, 61, 62, 63 and 64 of this Law.
2. Common property shall be divided into two, taking into account the following factors:
a/ Circumstances of the family, husband and wife;
b/ Each spouse’s contributions to the creation, maintenance and development of common property. The housework done in the family by a spouse shall be regarded as income-generating labor;
c/ Protecting the legitimate interests of each spouse in their production, business and career activities to create conditions for them to continue working to generate incomes;
d/ Each spouse’s faults in the infringement of spousal rights and obligations.
3. Common property of husband and wife shall be divided in kind, if impossible to be divided in kind, common property shall be divided based on its value. The partner who receives the property in kind with a value bigger than the portion he/she is entitled to receive shall pay the value difference to the other.
4. Separate property of a spouse shall be under his/her ownership, except for separate property already merged into common property in accordance with this Law.
A spouse who requests division of separate property which has been merged into or mixed with common property shall be paid for the value of his/her property contributed to common property, unless otherwise agreed by husband and wife.
5. The lawful rights and interests of the wife, minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves shall be protected.
6. The Supreme People’s Court shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Supreme People’s Procuracy and the Ministry of Justice in, guiding this Article.
Article 60. Settlement of property rights and obligations of husband and wife toward a third party upon divorce
1. Property rights and obligations of husband and wife toward a third party remain effective after divorce, unless otherwise agreed by husband and wife and that party.
2. When a dispute arises over property rights and obligations, the settlement of such dispute must comply with Articles 27, 37 and 45 of this Law and the Civil Code.
Article 61. Division of property for a couple living with their family
1. When a couple living with their family get a divorce, if their property cannot be determined separately from the common property of the family, the husband or wife is entitled to division of part of the family’s common property based on the couple’s contributions to the creation, maintenance and development of the family’s common property as well as to the common life of the family. The couple shall reach agreement with their family on their portion divided from the family’s common property. If they fail to reach agreement thereon, they may request settlement by a court.
2. For a couple living with their family whose property can be determined separately from the family’s common property, upon divorce, such property portion of the couple shall be deducted from the family’s common property for division under Article 59 of this Law.
Article 62. Division of land use rights of husband and wife upon divorce
1. Land use rights being separate property of a spouse remain under his/her ownership upon divorce.
2. The division of land use rights being common property of husband and wife upon divorce shall be divided as follows:
a/ For agricultural land under annual crops or aquaculture, if both partners have the need and conditions to directly use the land, the land use rights shall be divided under their agreement. If they fail to reach agreement thereon, they may request a court to settle it according to Article 59 of this Law.
When only one partner has the need and conditions to directly use the land, that partner may continue to use the land but shall pay to the other the portion of the land use right value the latter is entitled to;
b/ When husband and wife share the right to use agricultural land under annual crops or aquaculture with their household, upon divorce, the couple’s portion of the land use right shall be separated and divided under Point a of this Clause;
c/ For agricultural land under perennial trees, forestry land for forestation or residential land, the land use rights shall be divided according to Article 59 of this Law;
d/ The division of the rights to use land of other categories must comply with the land law.
3. For husband and wife living with their family and sharing no land use rights with the latter, upon divorce, the interests of the partner who has no land use rights and does not continue to live with the family shall be settled according to Article 61 of this Law.
Article 63. The right to stay of a spouse upon divorce
A house which is separate property of a spouse and has been put to common use remains under his/her ownership upon divorce. In case the other partner has accommodation difficulties, unless otherwise agreed by the partners, he/she has the right to stay at the house for 6 months at most from the date of termination of the marriage relation.
Article 64. Division of common property used for business activities
A spouse who is carrying out business activities related to common property has the right to receive that property and shall pay the other the property value that the latter is entitled to, unless otherwise prescribed by the business law.
Section 2. MARRIAGE TERMINATED AS A SPOUSE IS DEAD OR DECLARED TO BE DEAD BY COURT
Article 65. Time of termination of marriage
A marriage is terminated from the time of death of a spouse.
In case a court declares a spouse to be dead, the time of termination of the marriage is the date of death stated in the court’s judgment or decision.
Article 66. Settlement of property of husband and wife in case a spouse is dead or declared to be dead by a court
1. When a spouse is dead or declared to be dead by a court, the other shall manage common property, unless another person is designated to manage the estate under his/her testament or the heirs agree to designate another person to manage the estate.
2. When there is a request for division of the estate, unless the couple has reached agreement on the property regime, common property of husband and wife shall be divided into two. The property portion of the spouse who is dead or declared to be dead by a court shall be divided in accordance with the inheritance law.
3. In case the division of the estate would seriously affect the life of the living spouse and the family, this spouse has the right to request a court to restrict the division of the estate in accordance with the Civil Code.
4. Unless otherwise prescribed by the business law, property of husband and wife used for business activities shall be settled according to Clauses 1, 2 and 3 of this Article.
Article 67. Personal and property relations upon return of a spouse who is declared to be dead
1. When a court issues a decision to cancel the declaration of death of a person and that person’s spouse has not got married to another person, their marriage relation shall be restored from the time of their marriage. In case there is a court’s decision permitting a divorce under Clause 2, Article 56 of this Law, this decision remains legally valid. In case the spouse of that person has got married to another person, the marriage relation established later is legally effective.
2. The property relation between the person declared to be dead who returns and his spouse shall be settled as follows:
a/ If their marriage is restored, the property relation shall be restored on the effective date of the court’s decision canceling the declaration of death of the person who is the husband or wife. The property acquired by his/her spouse from the effective date of the court’s decision declaring death of the husband or wife to the effective date of the court’s decision canceling such declaration is separate property of that spouse;
b / If their marriage is not restored, property created before the effective date of the court’s decision declaring death of the husband or wife which has not been divided shall be settled as for property division upon divorce.
Văn bản liên quan
Cập nhật
Bài viết liên quan
Điều kiện để có thể đăng ký kết hôn đúng pháp luật như thế nào? Hai vợ chồng muốn đăng ký kết hôn mà khác tỉnh có được hay không mới nhất 2025?
Điều kiện để có thể đăng ký kết hôn đúng pháp luật như thế nào? Hai vợ chồng muốn đăng ký kết hôn mà khác tỉnh có được hay không mới nhất 2025?
Để đăng ký kết hôn đúng pháp luật, các cặp đôi cần phải đáp ứng một số điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều cặp vợ chồng còn băn khoăn về các thủ tục, đặc biệt là trong trường hợp hai người đến từ các tỉnh thành khác nhau. Vậy điều kiện để đăng ký kết hôn là gì? Liệu hai vợ chồng có thể đăng ký kết hôn tại tỉnh của một bên hay không? Bài viết này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về các yêu cầu pháp lý cần thiết và giải đáp thắc mắc về việc đăng ký kết hôn khi hai bên ở khác tỉnh, cập nhật theo quy định mới nhất năm 2025. 18/01/2025Xin giấy xác nhận độc thân online như thế nào mới nhất 2025?
Xin giấy xác nhận độc thân online như thế nào mới nhất 2025?
Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, việc thực hiện các thủ tục hành chính online ngày càng trở nên phổ biến và tiện lợi. Trong đó, xin giấy xác nhận độc thân (hay còn gọi là giấy chứng nhận độc thân) cũng không phải là ngoại lệ. Từ năm 2025, việc xin cấp giấy xác nhận độc thân có thể thực hiện hoàn toàn qua hình thức trực tuyến, giúp tiết kiệm thời gian và công sức cho người dân. Bài viết này sẽ hướng dẫn chi tiết quy trình xin giấy xác nhận độc thân online như thế nào mới nhất 2025? nhé. 16/12/2024Hướng dẫn chi tiết xin cấp giấy xác nhận độc thân (giấy chứng nhận độc thân) mới nhất 2025
Hướng dẫn chi tiết xin cấp giấy xác nhận độc thân (giấy chứng nhận độc thân) mới nhất 2025
Giấy xác nhận độc thân (hay còn gọi là giấy chứng nhận độc thân) là một loại giấy tờ quan trọng, chứng minh tình trạng hôn nhân của cá nhân. Trong năm 2025, việc xin cấp giấy xác nhận độc thân không chỉ đơn giản là thủ tục hành chính mà còn là yêu cầu cần thiết trong nhiều tình huống như kết hôn, xuất khẩu lao động, làm thủ tục visa, hay khi thực hiện các giao dịch dân sự khác. Bài viết này sẽ cung cấp hướng dẫn chi tiết về quy trình xin cấp giấy chứng nhận độc thân, các giấy tờ cần chuẩn bị và lưu ý quan trọng để giúp bạn thực hiện thủ tục này một cách nhanh chóng và chính xác nhất. 16/12/2024Kết hôn lần 2 gọi là gì? Tài sản vợ chồng khi kết hôn lần 2 thế nào mới nhất 2025?
Kết hôn lần 2 gọi là gì? Tài sản vợ chồng khi kết hôn lần 2 thế nào mới nhất 2025?
Kết hôn lần 2, hay còn gọi là tái hôn, là việc cá nhân kết hôn sau khi cuộc hôn nhân trước đã kết thúc do ly hôn hoặc mất vợ/chồng. Đây là quyền tự do hôn nhân của mỗi người và được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, khi tái hôn, vấn đề về tài sản vợ chồng thường nhận được sự quan tâm lớn, đặc biệt là cách phân định tài sản riêng, tài sản chung, cũng như các nghĩa vụ pháp lý liên quan. Năm 2025, các quy định mới về tài sản trong hôn nhân đã được ban hành nhằm làm rõ hơn quyền lợi và trách nhiệm của các bên khi kết hôn lần 2. Bài viết này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về khái niệm tái hôn và cách giải quyết vấn đề tài sản vợ chồng theo luật mới nhất. 16/12/2024Vợ chồng tái hôn có phải đăng ký kết hôn lần 2 không mới nhất 2025?
Vợ chồng tái hôn có phải đăng ký kết hôn lần 2 không mới nhất 2025?
Khi một cặp vợ chồng quyết định tái hôn sau khi ly hôn, một trong những câu hỏi mà họ thường băn khoăn là liệu có cần phải đăng ký kết hôn lần 2 hay không. Việc tái hôn có thể tạo ra những hiểu lầm về thủ tục hành chính, đặc biệt là khi các quy định pháp lý liên quan đến hôn nhân có thể thay đổi theo thời gian. Vậy, trong năm 2025, vợ chồng tái hôn có cần thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn lần 2 hay không? Bài viết này sẽ giải đáp câu hỏi này và cung cấp thông tin chi tiết về quy định mới nhất liên quan đến việc tái hôn tại Việt Nam. 16/12/2024Chưa ly hôn có được đăng ký kết hôn lần 2 không mới nhất 2025?
Chưa ly hôn có được đăng ký kết hôn lần 2 không mới nhất 2025?
Khi một cuộc hôn nhân không còn duy trì được hạnh phúc và bắt đầu xuất hiện những rạn nứt, nhiều người chọn cách ly hôn để tìm lại cuộc sống riêng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khi chưa hoàn tất thủ tục ly hôn, liệu người đó có thể đăng ký kết hôn lần 2? Đây là câu hỏi mà không ít người đặt ra, đặc biệt trong bối cảnh các quy định pháp lý về hôn nhân, ly hôn và kết hôn có sự thay đổi qua các năm. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng khám phá những quy định mới nhất về việc đăng ký kết hôn lần 2 khi chưa ly hôn tại Việt Nam năm 2025. 16/12/2024Kết hôn lần 2 có cần giấy xác nhận độc thân không mới nhất 2025?
Kết hôn lần 2 có cần giấy xác nhận độc thân không mới nhất 2025?
Kết hôn là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời mỗi người, nhưng đối với những người đã từng trải qua một cuộc hôn nhân trước đó, việc chuẩn bị cho đám cưới lần 2 đôi khi lại trở thành một vấn đề pháp lý khá phức tạp. Một trong những thắc mắc phổ biến là liệu khi kết hôn lần 2, có cần phải cung cấp giấy xác nhận độc thân hay không? Đây là một câu hỏi được nhiều người quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh các quy định pháp lý thay đổi theo từng thời kỳ. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề kết hôn lần 2 có cần giấy xác nhận độc thân không mới nhất 2025? nhé. 16/12/2024Mẫu đơn xin đăng ký kết hôn lần 2 mới nhất 2025
Mẫu đơn xin đăng ký kết hôn lần 2 mới nhất 2025
Đăng ký kết hôn lần 2 là thủ tục pháp lý quan trọng, đòi hỏi sự tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật để bảo đảm quyền lợi của các bên liên quan. Một trong những giấy tờ quan trọng cần chuẩn bị là đơn xin đăng ký kết hôn theo mẫu chuẩn. Năm 2025, mẫu đơn xin đăng ký kết hôn lần 2 đã có những cập nhật mới, giúp người dân thực hiện thủ tục dễ dàng hơn. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu mẫu đơn mới nhất cùng hướng dẫn cách điền đầy đủ, chính xác theo quy định hiện hành. 16/12/2024Thủ tục đăng ký kết hôn đối với người từng ly hôn mới nhất 2025
Thủ tục đăng ký kết hôn đối với người từng ly hôn mới nhất 2025
Đối với người từng ly hôn, việc đăng ký kết hôn lần tiếp theo không chỉ là một quyết định quan trọng trong cuộc sống mà còn phải tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật. Để đảm bảo tính hợp pháp và tránh phát sinh các vấn đề trong tương lai, người đăng ký kết hôn cần chuẩn bị đầy đủ giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân và hoàn thành đúng các thủ tục theo quy định. Năm 2025, pháp luật Việt Nam đã có một số cập nhật mới, giúp quy trình đăng ký kết hôn trở nên rõ ràng và thuận tiện hơn. Bài viết này sẽ hướng dẫn chi tiết thủ tục đăng ký kết hôn đối với người từng ly hôn mới nhất 2025 nhé. 16/12/2024Giấy tờ cần chuẩn bị khi đăng ký kết hôn lần 2 gồm những gì mới nhất 2025?
